PDA

View Full Version : Lịch sử tân nhạc Việt Nam



Dcfvietnam
10-22-2008, 07:17 PM
Đây là bài viết của nhà nghiên cứu Trần Quang Hải.
Thấy hay và có giá trị sưu tầm nên post lên cho anh em
Anh em đọc hết tham luận này sẽ thấy tự hào rằng Nhạc Vàng chính là đặc sản của Miền Nam VN - vùng đất của tự do.
-----------------------------------------------
3.Nhạc vàng</blockquote></blockquote>
Bên cạnh các tình khúc, dòng nhạc vàng cũng đặc biệt phổ biến. Với các bài hát giai điệu nhẹ nhàng, đơn giản, dòng nhạc này đã thu hút một số lượng lớn khán giả bình gian. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy viết: "Đầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm - mệnh danh là nhạc vàng - với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến."
Từ trước 1963, các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Lam Phương đã soạn các bản như Gạo trắng trang thanh, Chiều hành quân... Nhưng phải tới sau 1963, khi nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam bắt đầu thì các bài hát về Tình và Lính mới trở nên thực sự phổ biến. Đây cũng là hai đề tài chủ yếu của nhạc vàng.
Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ thành công trong nhiều lĩnh vực. Ông từng là trưởng đoàn nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa đi trình diễn ở một số nước. Hoàng Thi Thơ cũng từng tham gia sản xuất điện ảnh với phim Người cô đơn nói về đề tài âm nhạc. Trên lĩnh vực sáng tác ông viết nhiều bản với âm hưởng dân tộc như Trăng rụng xuống cầu, Rước tình về quê hương, Tình ca trên lúa, Đám cưới trên đường quê, các bản tình cảm như Chuyện tình người trinh nữ tên Thi, Đường xưa lối cũ... Ông còn soạn một vài vở kịch hát Cô gái điên, Ả đào say.
Lam Phương được biết tới với các bản nhạc tình Bài tango cho em, Em là tất cả, Tình bơ vơ... hoặc các bài chủ đề khác như Đoàn người lữ thứ, Cho em quên tuổi ngọc, Kiếp nghèo, Chuyến đò vỹ tuyến...
Các ca khúc với chủ đề Lính, người tiêu biểu nhất là Trần Thiện Thanh. Vốn cũng là một ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường, ông đã sáng tác và tự trình diễn nhiều bài hát về hình ảnh người lính Việt Nam Cộng hòa: Biển mặn, Chiều trên phá Tam Giang, Hoa trinh nữ, Rừng lá thấp, Tâm sự người lính trẻ, Tình thư của lính... Một số ca khúc khác của ông cũng rất phổ biến như Chiếc áo bà ba, Khi người yêu tôi khóc, Gặp nhau làm ngơ, Mùa đông của anh. Một tác giả viết về lính khác là Trúc Phương, tác giả của Đò chiều, Kẻ ở miền xa, Tàu đêm năm cũ, Trên bốn vùng chiến thuật... và Ai cho tôi tình yêu, Đôi mắt người xưa, Thói đời, Mưa nửa đêm, Tình thắm duyên quê...
Những bản nhạc tình bi lụy còn có Châu Kỳ với Giọt lệ đài trang, Được tin em lấy chồng, Sao chưa thấy hội âm, Con đường xưa em đi. Một vài bản khác rất nổi danh như Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang, Mười năm tình cũ của Trần Quảng Nam có thể xem như nằm trong số các bài nhạc vàng phổ biến nhất. Ngoài ra còn một số ca khúc như Phiên gác đêm xuân của Nguyễn Văn Đông, Người yêu của lính của Anh Chương, Sang ngang của Đỗ Lễ, Căn nhà ngoại ô của Anh Bằng...
Giọng ca tiêu biểu của nhạc vàng, đầu tiên có thể kể đến Duy Khánh. Ông cũng là một nhạc sĩ với bút danh Minh Kỳ, tác giả của Mưa trên xứ Huế, Thương về miền trung, Thương về xứ Huế. Tiếp theo là ca sĩ Chế Linh, cũng là tác giả của ca khúc Đêm buồn tỉnh lẻ[5]. Các giọng ca nữ có Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hoàng Oanh. Cùng với các nhạc sĩ, các ca sĩ này cũng góp phần định hình dòng nhạc vàng với cách hát khác hẳn các ca sĩ của nhạc tiền chiến hay tình khúc 1954-1975.
<blockquote><blockquote>4.Nhạc trẻ</blockquote></blockquote>
Vào cuối thập niên 1950, nhạc kích động châu Âu và Mỹ bắt đầu thâm nhập thị trường miền Nam. Một số thanh niên trẻ con các thương gia, các học sinh học theo chương trình của Pháp thường nghe các ca khúc của Mỹ và Pháp. Nhưng phải tới khoảng thời gian 1963-1965 thì phong trào nghe các ca khúc phương Tây này mới thực sự bành trướng qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters... của Anh như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones... của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida... trở thành thần tượng của giới trẻ Sài Gòn.
Đầu những năm 1960 thì nhạc trẻ trở thành một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Những ban nhạc trẻ kích động như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Ðức Huy, Tuấn Ngọc và Billy Shane) và một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương, Pauline Ngọc, Prosper Thắng, Julie Quang, Carol Kim... nổi danh với các bạn nhạc ngoại quốc hát bằng lời Anh hoặc Pháp. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ năm 1968 khuyến khích nhiều ca sĩ hát nhạc Mỹ. Nhiều bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng được các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Hải... đặt lời Việt.
Không chỉ dừng lại ở việc hát nhạc ngoại quốc, nhiều nhạc sĩ tự sáng tác các bạn nhạc kích động. Một trong những người đầu tiên có thể kể tới là Khánh Băng với Sầu đông, Có nhớ đêm nào, Tiếng mưa rơi. Các nhạc sĩ khác như Quốc Dũng, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà cũng là những người đầu tiên Việt hóa thể loại nhạc này.
Quốc Dũng, với nhiều ca khúc nổi tiếng, cùng với Thanh Mai tạo thành một đôi song ca được nhiều mến mộ. Ban Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà và ca sĩ Elvis Phương trở thành một trong nhưng ban nhạc thành công nhất của Sài Gòn giai đoạn đó.
Tới năm 1971, đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ, Tùng Giang và Nam Lộc tổ chức. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ. Tiếp theo đó nhiều đại nhạc hội khác được tiếp tục được tổ chức: năm 1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, năm 1974 tại sở thú với trên 20.000 khán giả.
Cho tới sau 1975, nhiều bản nhạc nước ngoài vẫn ăn khách trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một vài ca khúc còn được các ca sĩ trẻ trong nước hát, như Bang bang do Phạm Duy đặt lời Việt được Mỹ Tâm hát lại vào những năm đầu thập niên 2000.
<blockquote><blockquote>5.Nhạc phản chiến</blockquote></blockquote>
Khi cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng, ở miền Nam, không chỉ có các nhạc sĩ sáng tác các bài hát ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa mà còn xuất hiện nhiều ca khúc phản chiến. Người tiêu biểu nhất cho phong trào nhạc phản chiến này là Trịnh Công Sơn.
Bắt đầu từ khoảng năm 1966, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã chinh phục giới trẻ, đánh trúng tâm lý chán ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình. Năm 1968, sau sự kiên Tết Mậu Thân, Trịnh Công Sơn tung ra tập nhạc Kinh Việt Nam. Năm 1969, Trịnh Công Sơn cho ra tiếp tập Ta phải thấy mặt trời, rồi sau đó là Ca khúc da vàng. Với các ca khúc Nối vòng tay lớn, Bài ca dành cho những xác người, Gia tài của mẹ... Trịnh Công Sơn kêu gọi mọi người ngừng chiến tranh, nêu lên một hình ảnh Việt Nam đau thương vì nội chiến.
Song song với nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, sau Tết Mậu Thân năm 1968, mầm mống chống đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu nẩy nở ở các trường đại học tại Sài Gòn. Nhạc sĩ Miên Đức Thắng đã sáng tác các ca khúc như Hát từ cách đồng hoang, Lớn mãi không ngừng. Phong trào học sinh và sinh viên xuống đường xuất hiện cùng với Hát cho đồng bào tôi nghe, trong đó hai nhạc sĩ tiêu biểu là Trần Long Ẩn và Tôn Thất Lập. Năm 1971, một tập nhạc khác xuất hiện là Hát cùng đồng bào ta. Những bài hát xuống đường được giới sinh viên học sinh hát nhiều nhất lúc đó là: Sức mạnh nhân dân của Trương Quốc Khánh, Tình nghĩa Bắc Nam của Nguyễn Văn Sanh, Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tấn... Phạm Thế Mỹ cũng viết Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Thương quá Việt Nam, Bông hồng cài áo với ý thơ của Thích Nhất Hạnh.
Phạm Duy cũng sáng tác một số ca khúc phản đối cuộc chiến tranh Kỷ vật cho em, Chuyện hai người lính, Khi tôi về, Tình khúc trên chiến trường tồi tệ, Thầm gọi tên nhau trên chiến trường tồi tệ, Tưởng như còn người yêu... Trong đó ca khúc Kỷ vật cho em phổ từ thơ Linh Phương trở nên rất nổi tiếng, được các danh ca của Sài Gòn khi đó như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly hát thường xuyên tại các phòng tra, vũ trường gây nên các tác động mạnh mẽ tới khán giả.
<blockquote><blockquote>6.Phong trào du ca</blockquote></blockquote>
Năm 1966, hai nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập thành lập phong trào Du ca, là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng, xuất hiện cùng lúc với phong trào làm công tác xã hội của sinh viên, học sinh. Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến. Trưởng xưởng Du ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu. Phong trào được Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên Việt Nam Cộng hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng 1 năm 1969.
Du ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Trần Tú, Nguyễn Quyết Thắng... Phạm Duy cũng có đóng góp trong phong trào du ca với một số bài như Sức mấy mà buồn, Thôi bỏ đi tám.
Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào du ca thường xử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương. Nhiều bài hát của du ca đã trở nên quen thuộc như Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, Hát từ tim, hát bằng hơi thở của Nguyễn Quyết Thắng, Anh sẽ về của Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Kinh Kha, Xin chọn nơi này làm quê hương của Nguyễn Đức Quang.
Những ca khúc trong phong trào du ca có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai. Trước năm 1975, phong trào du ca có tác dụng sâu mạnh đối với giới trẻ qua các đoàn, toán ca như Con Sáo Huế, Du ca Áo Nâu, Du ca Lòng Mẹ, Du ca Trùng Dương... Họ trình diễn ở khắp nơi miền Nam khi đó, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, hướng đạo, hay Thanh sinh công, Gia đình Phật tử.
Du ca cũng đã phát hành một số tuyển tập nhạc như: Tuyển tập Du ca 1, Du ca 2, Du ca 3, Những bài ca khai phá, Ta đi trên dòng lịch sử, Những điều trông thấy, Những khuôn mặt Duca, Hát cho những người sống sót, Anh hùng ca, Sinh hoạt ca.
<blockquote><blockquote>7.Các nhạc sĩ khác</blockquote></blockquote>
Trong thời kỳ từ 1954 đến 1975, Phạm Duy vẫn là một trong những nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh mẽ nhất và các ca khúc của ông cũng thuộc nhiều thể loại. Tiếp tục những ca khúc "dân ca mới", Phạm Duy còn sáng tác nhiều tình khúc như Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu... Ông còn có các bài hát Bé ca dành cho thiêu nhi: Ông trăng xuống chơi, Chú bé bắt được con công, Thằng Bờm, Bé bắt dế, Đưa bé đến trường, Đốt lá trên sân
Các trường ca Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam cũng được Phạm Duy viết trong thời kỳ này. Ngoài ra có thể kể đến Đạo ca, Tâm ca... Trong các phong trào Nhạc trẻ, Du ca, Nhạc phản chiến Phạm Duy đều có tham gia với nhiều ca khúc.
Trịnh Công Sơn, ngoài các ca khúc phản chiến, ông là tác giả của rất nhiều tình khúc, giúp ông trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ đó và cả sau này. Từ sáng tác được coi là đầu tay Ướt mi xuất bản năm 1959, Trịnh Công Sơn tiếp tục thành công với Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Tình xa, Tình nhớ... Cùng với tiếng hát Khánh Ly, các bản tình ca của Trịnh Công Sơn đã chinh phục giới thanh niên miền Nam khi đó, trở thành một hiện tượng của tân nhạc.
Một điểm khác biệt giữa âm nhạc miền Bắc và miền Nam khi đó là trong khi ở miền Bắc, các ca khúc chỉ được phát trên đài phát thanh, qua các buổi biểu diễn của những đội văn công... thì tại miền Nam, âm nhạc hình thành một thị trường sôi động với nhiều hãng băng đĩa. Các ca khúc được phát trên sóng phát thanh, truyền hình, được trình diễn tại các vũ trường, phòng trà và các đại nhạc hội.
Những người đi đầu trong việc sản xuất băng đĩa có thể kể đến Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Văn Đông, Tùng Giang... Những băng nhạc Sơn ca, Trường Sơn, Nhã ca, Nhạc trẻ, Shotguns, Sóng nhạc... được phát hành đều đặn. Với lợi nhuận từ các băng nhạc, tập nhạc, các nhạc sĩ nổi tiếng có được thu nhập rất cao.
Phòng trà và vũ trường là hai điểm trình diễn phổ biến của Sài Gòn giai đoạn đó. Những phòng trà như Đêm Màu Hồng, Queen Bee... là điểm yêu thích của nhiều khán giả nghe nhạc.
VI.Giai đoạn sau 1975
Các nhạc sĩ của Sài Gòn sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng nhạc hải ngoại.
Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975. Trong những năm đầu, một chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như Nam Lộc với Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt, Khi xa Sài Gòn của Lê Uyên Phương, Đêm nhớ về Sài gòn của Trầm Tử Thiêng... Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với Tị nạn ca của Phạm Duy, Người di tản buồn của Nam Lộc, Ai trở về xứ Việt của Võ Tá Hân, Một chút quà cho quê hương của Việt Dũng... Một chủ đề phổ biến nữa là "phục quốc kháng chiến" nói lên mong muốn được quay trở lại miền Nam.
Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập Tiếng hát tủi nhục năm 1982, Châu Đình An với Những lời ca thép năm 1982... Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là Ngục ca phổ từ thơ của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ Tiếng vọng từ đáy vực
Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bỏ chủ đề "phục quốc kháng chiến" quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy, Trịnh Nam Sơn... Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác, trong đó nổi tiếng hơn cả là Riêng một góc trời viết năm 1997.
<blockquote>A.Nhạc di tản từ 30 tháng 4, 1975.</blockquote>
30 năm lặng lẽ trôi qua.30 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc , những ca khúc đã thay đổi nhiều đề tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Những năm đầu của thời di tản cho thấy những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 75, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng chục trung tâm băng nhạc. Ðến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc. Chỉ trong vòng 5 năm (1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV, và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia. Video về tân nhạc cũng rất thịnh hành. Hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2005) Giai đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của ngươì Việt trong lĩnh vực sáng tác. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền Vân, Huỳnh Anh. Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:
(cont...)

Dcfvietnam
10-22-2008, 07:49 PM
<blockquote><blockquote>1. Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon</blockquote></blockquote>
Ðất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa mùa xuân năm 1975. Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980). Ðó là bài "Saigon Ơi ! Vĩnh Biệt ". Saigon , thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng triệu con tim bi. rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như "Saigon Ơi! Vĩnh Biệt !" (Nam Lộc , 1975), "Saigon Ơi ! Thôi Ðã Hết" (Nam Lộc , 1976), "Saigon, Bây giờ Buồn Không Em ?" (Song Ngọc, 1976), "Ðêm Qua Mơ Thấy Saigon" (Hoàng Thi Thơ, 1976), "Saigon Niềm Nhớ Không Tên" (Nguyễn Ðình Toàn, 1977), "Khi Xa Saigon" (Lê Uyên Phương, 1980), "Bài Cuối Cho Saigon" (Song Ngọc, 1981), "Saigon Áo Xanh Nón Lá " (Anh Bằng - Vũ Kiện, 1981), "Trả lại Saigon Cho Tôi" , "Saigon Ra Ðường" (thơ Duyên Anh, nhạc Vũ Trung Hiền, 1982), "Saigon Năm Xưa "(Trần Quang Hải, 1985).
Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.
Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9,1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai (đài VOA) từ Hoa Thịnh Ðốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải . Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng 10, 1976.
Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser. Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề "Nhạc Tình Phạm Duy" vào cuối năm 1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa "Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến" (Giấc Mơ và Sự Thật).
Băng vidéo trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp vơí kỹ thuật thu hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.
<blockquote><blockquote>2. Nhạc tranh đấu và kháng chiến</blockquote></blockquote>
Sau ba năm im hơi 1975-1978), sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City, California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang) để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển nhạc "Hát Trên Ðường Tạm Dung" (1978). Bản "Tôi Ði Trên Ðường Tạm Dung" và bản "Nguyên Vẹn Hình Hài" của Phạm Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Ðại Tôn và Hoàng Cơ Minh. Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua những cuốn băng như "Em nhớ màu cờ", "Dưới Cờ Phục Quốc", vv... Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc, kháng chiến.
Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn băng "Lưu Vong Khúc" và "Kinh Tỵ Nạn" (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh , điển hình nhất là "Thương Nhớ Quê Hương" (1978), "Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình" (1978), và "Em Về Giữ Lửa" ( phổ thơ của Minh Ðức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ "chiến dịch người về" đã xuất bản hai cuốn băng "Hát Cho Những Người Về " (1981), và "Rực Lửa Trời Ðông" (1983) gồm những ca khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất từ 1976-80 như "Tháng Tư Buồn", "Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta", "Ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 75", "Người Di Tản Buồn", "Hát Cho Người Tìm Tự Do", "Quê Hương Bỏ Lại", vv...
<blockquote><blockquote>3. Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam</blockquote></blockquote>
Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là "Ngục Ca" qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ "Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực" . Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam . Sau khi vượt biển , được định cư tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc "Tiếng Hát Tủi Nhục" (1982). Châu Ðình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc "Những Lời Ca Thép " (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Ðức Quang ở Mỹ, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Nguyễn Ðình Ngoạn ở Ðức, Phạm Quang Ngọc, Cung Ðàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.
<blockquote><blockquote>4. Sự phục sinh của nhạc tiền chiến</blockquote></blockquote>
Từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương, Thanh Mai, vv.... trong những năm 1983-85 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong. Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Ðức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiêù nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa. "Yêu Em Dài Lâu" (Ðức Huy), "Ru Ðơì Phù Ảo" (Duyên Anh, 1984), "Anh Cần Em" (Trần Quang Hải -Lương Ngọc Châu, 1982). Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.
<blockquote><blockquote>5. Hưng Ca, nhạc trẻ, nhạc song ngữ </blockquote></blockquote>
Phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca vơí Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa và Phan Ni Tấn. Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan đã đẩy mạnh phong trào du ca với sự thực hiện một trang nhà Du Ca với đầy đủ hình ảnh các sáng lập viên, bài hát và sinh hoạt ở hải ngoại .(http://home.wanadoo.nl/duca )
Phong trào Hưng Ca gồm các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh Công Ánh, Trần Lãng Minh, Phan Ni Tấn, Khúc Lan, được chánh thức ra đời tại San Jose vào ngày 7 tháng 9, năm 1985 với tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: "Hưng Ca 1: Lên Ðường "(1985), và "Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn" (1986).
Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Ba mươi năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Ðài, Cinda Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở Hoa kỳ từ năm 1987). Về sau có Don Hồ (nổi tiếng nhứt trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi tiếng nhứt trong hai năm 1991 và 1992),Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher&#39;e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai, Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh Ðình, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv... mang lại cho nền nhạc trẻ một luồng gió mới và tạo nhiều sống động.
Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần. Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi. Trong thơì gian 10 năm chót của thế kỷ 20, Phạm Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển "Ngàn Lời Ca" (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca khúc "Bầy Chim Lìa Xứ", và phần giao hưởng cho "Con Ðường Cái Quan". Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ "Truyện Kiều" và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ cộng sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Ðức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ), Anh Khoa (Hung Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia nã đại, 1990), Bích Liên (Ðức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác (Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới , nhứt là trong ngành phát hành băng nhạc và băng vidéo.
Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương, mdtt ở Hoa kỳ, Bảo Trâm ở Canada, Trang Thanh Trúc, Mộng Trang ở Pháp, Bích Hà, Quách Nam Dung ở Úc châu. Nhạc sĩ Vô Thường (từ trần năm 2003 tại Hoa kỳ) tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD tự xuất bản tại Hoa Kỳ . Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ), giáo sư tiến sĩ Phạm Quang Tuấn (Úc châu) có viết nhạc , và nhiều hội viên của hai hội Nhạc Việt (nhacviet@yahoo.com ) và Em Ca Hát (emcahat@yahoo.com) , cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho trên 200 bài thơ và thực hiện trên 22 CD với toàn nhạc của anh. Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 vơí hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.
Nhạc cận đại Việt Nam theo chiều hướng Tây phương cũng được phát triển trong giới nhạc Việt . Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường chưa đầy 30 tuổi khi sáng tác bài « Phụng Vũ » đã đoạt giải thưởng ở đại hội quốc tế âm nhạc gia trẻ Á châu và Thái Bình Dương tại Wellington (Tân Tây Lan) năm 1984. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn rời Việt Nam năm 1983 định cư tại Úc châu đã học dân tộc nhạc học và hiện giảng dạy nhạc đương đại tại trường đại học University of New South Wales và mỹ học tại University of Sydney .. Tác giả của nhiều nhạc phẩm đương đại phối hợp nhạc ngữ Việt, Á và Úc , Âu qua nhiều dĩa CD xuất bản tại Úc . Nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng (sinh năm 1962 đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash University (Melbourne, Úc châu) và chú trọng nhiều tới sáng tác nhạc đương đại giữ nhạc Việt và nhạc Tây phương cùng với sự cộng tác của vỡ là nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền (huy chương vàng đàn tranh và dân ca ở Việt Nam trước khi sang định cư tại Úc năm 1990) với nhiều dĩa CD phát hành tại Úc .
Tại Hoa Kỳ , nhạc sĩ Cung Tiến (sinh năm 1938) tiếp tục sáng tác nhạc đương đại. Nhạc tấu khúc « Chinh phụ ngâm » (1987) , soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988. Hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở Minneapolis (Minnesota, Hoa Kỳ), Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại « Lơ thơ tơ liễu buông mành » dựa trên một điệu dân ca Quan họ (2003). Nhạc sĩ Phan Quang Phục ( sinh năm 1962) sang Hoa Kỳ năm 1982, đậu tiến sĩ âm nhạc tại trường đại học Michigan (Hoa kỳ), dạy sáng tác tại trường đại học Cleveland State University (1993-1996) và sau đó tại trường đại học University of Illinois. Được giải thưởng Prix de Rome năm 1997, một giải thưởng cao quý nhứt trong lĩnh vực âm nhạc . Phan Quang Phục, được xem như là một trong 6 nhạc sĩ trẻ giỏi nhứt xứ Mỹ về nhạc đương đại, đã sáng tác rất nhiều và các nhạc phẩm được trình diễn khắp năm châu .
Xứ Pháp đã đào tạo một số nhạc sĩ Việt Nam có một chỗ đứng quan trọng trong làng nhạc hiện đại . Nguyễn Văn Tường (1929-1996), người Việt đầu tiên học nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) đã viết những nhạc phẩm phối hợp hai tư tưởng Âu Á như bài « Cộng Tồn » (1968) (Co-existence), « Về Nguồn » (1975) sử dụng máy móc điện tử và nhạc cổ truyền Việt Nam . Nguyễn Thiên Đạo (sinh năm 1939) , học trò Việt duy nhứt của nhạc sư Olivier Messiaen đã sử dụng nhạc ngữ cận đại tây phương trong một số nhạc phẩm như « Thành Đồng Tổ Quốc », « Khóc Tố Như », vở kịch opéra « Mỵ Châu Trọng Thủy ». Tôn Thất Tiết (sinh năm 1933) học nhạc ở Pháp từ năm 1958 và khởi sự sáng tác năm 1964. Ông đã sáng tác trên 50 nhạc phẩm đa số mang tên Việt như « Tứ đại cảnh » (1968), « Hy Vọng » (1971), « Ngũ Hành » (1973), « Chu Kỳ 1 tới 5 » (1976-1983, « Kiếm Ai » (1978), « Tranh » (1980). Ông nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế, và ông viết nhạc phim cho những phim « Mùi Đu Đủ Xanh », « Xích Lô » của nhà đạo diễn trẻ tuổi Trần Anh Hùng. Trương Tăng (1936-1989) học nhạc ở nhiều trường nhạc tại Paris, sáng tác nhiều nhạc phẩm như « Fujiyama » (thơ giao hưởng), « Dạ Hương » (kịch hát dựa trên một truyện cổ tích Việt Nam), « Mẹ ». Anh đã sáng tác nhiều tiểu khúc cho đàn tranh, đàn bầu. Được giải thưởng của ông hoàng Rainier của Monaco cho một giao hưởng khúc với 100 nhạc khí . Trương Tăng chuyển sang nhạc điện toán (musique assistée par ordinateur) và học tại trung tâm IRCAM , Paris . Trần Quang Hải đóng góp nhiều trong lĩnh vực nhạc đương đại. Cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường trong phần trình diễn đàn môi, đàn tranh, hát đồng song thanh và muỗng trong nhạc phẩm « Về Nguồn » (1975), cũng như đã cộng tác với Misha Lobko để hoàn thành bản « Shaman » (1982) trong đó nhạc jazz, điện tử, nhạc cổ truyền, nhạc tùy hứng đều được sử dụng. Trần Quang Hải đã trình bày nhạc phẩm « Trở Về Nguồn Cội » với đàn tranh và nhạc điện tử tại đại học nhạc Á châu ở tỉnh Etampes (Pháp) năm 1988. Sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh nghĩa là hát hai âm thanh khác nhau cùng một lúc từ trong cổ họng (chant diphonique / chant de gorge – overtone singing / throat singing) phát xuất từ Mông Cổ, Tuva đã giúp cho Trần Quang Hải từ năm 1974 sáng tác nhiều nhạc phẩm mới trong nhạc điện thanh (musique électro-acoustique), nhạc tùy hứng (musique improvisée – improvized music), nhạc thế giới (musique du monde – world music), nhạc thiền (musique méditative – music for meditation), nhạc điều trị học (musicothérapie– music therapy).
<blockquote> B.Nhạc tại Việt Nam sau 1975 </blockquote>
Tân nhạc từ năm 1975 trở đi đã thay đổi đề tài. Nhạc đã xoay từ chiến tranh tới hòa bình, từ đất nước bị chia đôi tới thống nhất với một cuộc sống mới, từ nhạc bị gò ép trong lối viết nhạc Nga sô và Trung quốc tới sự giao lưu văn hóa phóng túng với thế giới . Trong vòng gần 30 năm (1975-2004) mức sản xuất ở Việt Nam đã tiến rất xa và rất mau .
Đất nước được thống nhất, đề tài xoay về phong cảnh đẹp của Việt Nam. Lính trong vai trò kiến thiết , trong hòa bình. Tình yêu đôi lứa được phát triển mạnh.
Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc : nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc , và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc viết cho kịch, vũ và điện ảnh .
Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động . Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng .
<blockquote><blockquote>1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu </blockquote></blockquote>
do nhạc sĩ Thanh Tùng (« Mưa Ngâu », « Giọt Nắng Bên Thềm ») đề xướng qua đề tài tình yêu . Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng (« Cơn Mưa Em Bất Chợt »), Từ Huy (« Những Lời Em Hát »), Phú Quang (« Em Ơi, Hà Nội Phố »), Duy Thái , Nguyễn Ngọc Thiện ( « Như Khúc Tình Ca »), Dương Thụ (« Tiếng Sóng Biển »), Đặng Hữu Phúc (« Ru Con Mùa Đông »), Phạm Trọng Cầu (« Tiếng Hát Cho Em »).
<blockquote><blockquote>2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền.</blockquote></blockquote>
Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường « Đừng Sánh Em Với Mặt Trời », « Một Nét Ca Trù Mùa Xuân »), Trần Tiến (« Tùy Hứng Ngựa Ô », « Tiếng Trống Baranưng ») , Phó Đức Phương (« Nha Trang Thu »), Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này .
Nhạc tại Việt Nam sau 1975 Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:
- khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Ðình Bảng, Từ Huy, Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.
- khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền . Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Ðỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Ðức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.
Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ trước như Hoàng Vân, Huy Du, Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu, Nguyền Đức Toàn, Phạm Tuyên, Tân Huyền, Hồng Đăng, Văn Ký, Vũ Thanh, Nguyễn Văn Tý cũng sáng tác những nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi trong quần chúng .
Ca khúc quần chúng gồm có mọi thể loại : hành khúc (« Khúc Quân Hành Trên Bán Đảo » của Cát Vận, « Hành Quân Lên Tây Bắc » của An Thuyên ; trữ tình (« Dáng Đứng Bến Tre » của Nguyễn Văn Tý , « Điệp Khúc Tình Yêu » của Trần Tiến, « Em Ơi , Hà Nội Phố » của Phú Quang phổ thơ Phan Vũ .
Nhóm « Những Người Bạn » gồm 8 nhạc sĩ : Trịnh Công Sơn (từ trần năm 2001), Trần Long Ẩn , Tôn Thất Lập, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên, và Vũ Hoàng được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, năm 1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road / artists de rue). Tên « Những Người Bạn » do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe . Mỗi tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của an hem . Nhóm « Những Người Bạn » sẵn sàng đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, vidéo với sự phụ giúp của những ca sĩ nổi tiêng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh. Trong buổi đầu tiên của nhóm này, Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhứt tên là « Con Mắt Còn Lại » (ý thơ Bùi Giáng). Thanh Tùng viết một ca khúc « Lối Cũ Ta Về » trong hoài niệm về người vợ đã mất . Trần Long Ẩn viết tặng mẹ. Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe . Dân chúng ưa nhạc « sến », nhạc « vàng » hay nhạc trướ 75. Các ca khúc trữ tình trước 75 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới sau 75.
Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chứ hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương , Hoàng Giác, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn và những ca khúc tiền chiến được hát trở lại .
Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành công qua hàng trăm ca khúc mới . Một số nhạc sĩ trẻ như Phú Quang, Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phạm Minh Tuấn, Tôn Thất Lập, Thế Hiền, Nguyễn Văn Hiên, Dương Thụ, Từ Huy, Ngọc Đại , vv… viết nhiều bài nhạc mới rất được ưa chuộng. Đề tài mới hướng về tình yêu chứ không còn ca tụng Đảng nữa .
Nhiều nhạc sĩ trẻ tiếp nối các nhạc sĩ đàn anh tạo một thế hệ mới trong địa hạt sáng tác . Có thể kể Nguyễn Hiệp (1947), Thế Hải (1947), Văn Thành Nho (1949), Nguyễn Phú Quang (1949), Trần Quang Lộc (1949), Vũ Ngọc Giao (1951), Linh Giang, Trần Thiết Hùng (1951, Quang Minh (1953), Quang Lộc (1954), Châu Đăng Khoa (1955), Vũ Hoàng (1956), Võ Công Ánh (1957), Nguyễn Hải (1958), Trương Ngọc Ánh (1959).
Các ca sĩ trẻ nổi tiếng hiện nay càng ngày càng nhiều như Lê Dung (từ trần năm 2001), Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường , Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng, Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Bằng Kiều (sang định cư ở Hoa Kỳ, thành hôn với nữ ca sĩ Trizzy Phương Trinh), Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Trần Thu Hà (định cư tại Hoa kỳ), Tạ Minh Tâm, Quang Thọ… Nhạc trẻ, nhạc ngoại quốc thuộc đủ loại pop, hip hop, house, rave, rap, jazz, thịnh hành trở lại với nhiều tụ điểm hát ngoài trời rộng lớn tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ)
Năm 2002 đánh dấu sự phát hiện hai nhạc sĩ trẻ Quốc An và Nguyễn Nhất Huy với bản nhạc « Hát Với Dòng Sông ». Một nhạc sĩ trẻ khác Tiến Luân chuyên về nhạc có âm hưởng dân tộc nổi lên với bài « Quê Em Mùa Nước Lũ ». Nhạc sĩ Quang Đạt (sinh năm 1976), giảng viên Nhạc Viện TPHCM và trường âm nhạc Yamaha và là người soạn hòa âm cho rất nhiều ca khúc thịnh hành nhất trong năm 2002 như « Cây Đàn Sinh Viên », « Hát Với Dòng Sông », « Hát Cho Người Ở Lại », « Tình Phiêu Lãng », « Lời Mẹ Ru ». Các ca sĩ thuộc thế hệ thế kỷ 21 như Mỹ Tâm, Nguyễn Phi Hùng , Thanh Thảo, nhóm MTV, Minh Quân, Nhóm Ty My Ty, Việt Quang, Ưng Hoàng Phúc, Lâm Chí Khanh, Ngô Thành Vân, Mỹ Lệ, vv….
Thị trường băng dĩa, CD, VCD và ngay cả DVD bành trướng mạnh mẽ từ năm 2000. Hàng chục đại hội liên hoan tân nhạc được đài truyền hình , đài phát thanh, báo chí tổ chức khắp nơi trên toàn xứ tạo cơ hội cho những ca sĩ trẻ có điều kiện thăng tiến. Hội nhạc sĩ Việt Nam thành lập năm 1957 đã quy tụ hàng trăm nhạc sĩ và trở thành hội viên của hiệp hội các nhà soạn nhạc Châu Á ( ACL – Asian Composers League) từ năm 2000. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam được thành lập vào năm 2002 bảo vệ những nhạc phẩm Việt Nam ở Việt Nam và ngoại quốc .
Từ năm 2001, một số ca sĩ trẻ trong nước chạy ra xứ ngoài (Trần Thu Hà, Bằng Kiều qua hôn nhân, Thu Phương, MC Huy, Bảo Yến, Nhã Phương), một số ca sĩ bị mắc bịnh « siêu sao », đa số chạy theo kiểu hát nhép (tạo nên những « búp bê biết hát »), fan ảo (phát sinh fan club ), hát nhạc chưa được phép, một số ca sĩ tranh nhau ca khúc mua độc quyền , làm xáo trộn đời sống âm nhạc trẻ ở Việt Nam.
Một số nhạc sĩ tìm lợi tức thương mại qua việc đặt lời Việt cho nhạc ngoại, chìm đắm trong nhạc lai, nhạc nhái , đạo nhạc (chấn động nhất trong năm 2004 với hai nhạc sĩ Bảo Chấn và Quốc Bảo), đạo thơ.
Việc viết lời Việt trên nhạc ngoại không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó đã có các bản « Đồng Xanh » ( từ « Greenfield »), « Cha Yêu » (từ « Papa »), và rất nhiều ca khúc song ngữ được lưu hành ở miền Nam trước 75. Vấn đề chuyển ngữ bị lạm phát vì yếu tố thương mại. Những ca khúc thời trang của Tây phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp tấp, vội vàng, đôi khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca khúc « Yêu Nhau Đi » (từ « Tragedy »), « Ôi Tình Yêu », « Mắt Bồ Câu » (từ nhạc Thái)
Những bài hát nổi tiếng của các « diva » lừng danh thế giới như Whitney Houston, Celine Dion, Mariah Carey, Toni Braxton đã được các ca sĩ Việt Nam chọn và bắt chước sao cho thật giống nguyên bản, tạo thành một phong trào nhạc nhái . Điển hình nhất là nữ ca sĩ Hồng Nhung với « Everything I Do », « Beauty and Beast » (do Brandy hát nguyên bản), Thanh Lam với « Unbreak My Heart », « I Will Always Love You » (do Toni Braxton hát), Hồng Hạnh nổi tiếng với bài « I Wanna Dance With Somebody » (do Whitney Houston trình bày).
Sự ra đời của chương trình Làn Sóng Xanh (LSX) của đài Tiếng Nói Nhân Dân TPHCM, chương trình VTV Bài Hát Tôi Yêu và Mai Vàng cho thấy những bản nhạc ngoại đa số đứng đầu bảng xếp hạng ca khúc được yêu thích nhứt . Vì lý do đó, các ca sĩ đua nhau hát nhạc ngoại để có tên trên danh sách ca khúc của ba chương trình kể trên . Ca khúc thuần túy Việt Nam hay có âm hưởng dân ca dần dần bị chìm trong quên lãng và không được giới trẻ để ý tới . Hiện tượng « nhạc sĩ thị trường » được chào đời để đáp ứng thị hiếu quần chúng trẻ .
Hiện tượng trong làng nhạc trẻ ở Việt Nam từ năm 2003 là « liveshow » đã đưa nữ ca sĩ Mỹ Tâm lên hàng đầu các ca sĩ nổi tiếng trong năm 2003 và 2004 .
Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc theo thống kê của phòng ca múa nhạc sở VHTT TPHCM . Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Viẹt chiếm gần 50 % . Những quyết định, kiểm điểm, phê bính, trừng phạt được đưa ra qua các quyết định mới trong quy chế 47 về tổ chức biểu diễn để mong mang lại trật tữ và tạo điều kiện cho việc hồi sinh nhạc trẻ thuần túy Việt Nam
Nhạc Jazz được nhập vào thị trường nhạc Việt từ khi Việt Nam mở cửa và chấp nhận « đổi mới » (perestroika) vào cuối thập niên 80. Nhạc sĩ kèn saxophone Quyên Văn Minh đã gây dựng phong trào nghe nhạc Jazz từ đầu thập niên 90 với sự thành lập Hanoi Jazz Club . Tại Sài Gòn (TPHCM bây giờ) có một số quán có nhạc Jazz như Dragon Bar, Yoko Cafe, Bob Jazz va Wild Horse . Qua 4 liên hoan nhạc Jazz Châu Âu từ năm 2001, không khí thích nhạc Jazz được bừng sôi trong giới yêu nhạc jazz còn trong giai đoạn phôi thai tại Việt Nam , nhưng hy vọng sẽ được phát triển mạnh trong tương lai .
<blockquote><blockquote>3.Nhạc thiếu nhi</blockquote></blockquote>
Từ năm 1976, sau khi Việt Nam được thống nhất, ca khúc thiếu nhi được sáng tác mạnh hơn với sự đóng góp của nhiều nhạc sĩ đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước , Phong Nhã (« Bài Ca Sum Hợp »), Phan Huỳnh Điểu (« Ngày Vui Mới »), Phạm Tuyên (« Hát Dưới Trời Thu Hà Nội », tập nhạc thiếu nhi « Chú Voi Con Ở Bản Đôn »), Hoàng Vân, Hồ Bắc, Xuân Giao (« Giấc Mơ Em Bé »), Hoàng Hà (« Chú Bộ Đội ») , Hoàng Long ( « Từ Rừng Xanh Cháu Về Thăm Lăng Bác » sáng tác chung với Hoàng Lân), Hoàng Hà ( « Con Mèo Ra Bờ Sông »), Vũ Thanh (« Em Đi Trong Tươi Xanh »), Huy Trân (« Bầu Trời Này, Mặt Đất Này » thơ Diệp Minh Tuyên ), Minh Châu (« Dàn Đồng Ca Mùa Hạ »), Hàn Ngọc Bích (« Mùa Xuân Và Tuổi Hoa »), vv… Các nhạc sĩ trẻ của thế hệ đang lên như Cao Minh Khanh (« Mùa Xuân Và Tình Bạn »), Trần Ngọc (« Em Như Chim Câu Trắng »), Đỗ Trí Dũng (« Các Đám Mây Sẽ Kể »), Vũ Trọng Tường (« Mùa Thu Ngày Khai Trường »), vv… cũng như các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn (« Em Là Hoa Hồng Nhỏ »), Phạm Trọng Cầu (« Nhịp Cầu Tre »), Trương Quang Lục ( « Màu Mực Tím »), Nguyễn Văn Hiên (« Thêm Một Tuổi Hồng »), Nguyễn Ngọc Thiện ( « Cô Bé Dỗi Hờn »), Phạm Đăng Khương (« Con Đường Đến Trường »), Vũ Hoàng (« Hoa Điểm 10 »), vv…viết nhiều bài hát cho trẻ em . Nhiều trung tâm văn hóa thiếu nhi Hà Nội, TPHCM, Quảng Nam, Đà Nẵng , Cần Thơ tạo điều kiện cho trẻ em hát với nhau. Đại hội liên hoan nhạc trẻ em được tổ chức hàng năm khắp nơi . Cuộc hội thảo « Âm nhạc thiếu nhi » do ban âm nhạc thiếu nhi - hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức năm 1985 đánh dấu sự lưu ý của giới nhạc sĩ đối với giới trẻ em. Băng nhạc cassette audio và video, hay băng karaoke giúp cho trẻ em thích hát nhạc của lứa tuổi của chúng .
<blockquote><blockquote>4.Nhạc mới cho nhạc khí cổ truyền </blockquote></blockquote>
Sau 1975, phong trào cải tiến nhạc khí cổ truyền và sáng tác bài bản mới lên tới cao độ. Những công trình cải tiến nhạc khí đáng được để ý như cải tiến đàn tính của dân tộc Tày, Thái, hệ thống mõ ống, mõ cá của Tạ Thâm, đàn trưng của Đỗ Lộc, Bá Phổ, sáo mèo của Lương Kim Vinh, sáo trúc của Đinh Thìn, đàn bầu của Phan Chí Thanh, Xuân Hoạch, k’ni của Quốc Hùng, dinh pah cũa Nay Knia Sơn, đàn tranh của Phương Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo. Ngoài ra, một số nhạc sĩ đã chế ra những cây đàn hoàn toàn mới như nhạc sĩ Phạm Lý (Tp.HCM) chế tạo mới bộ đàn lý gồm 4 cây. Nhạc sĩ Lê Thái Sơn (Hà Tây) với cây đàn p&#39;rông (một dạng piano làm bằng tre, nứa). Những trường hợp này được xem như là sự sáng chế nhạc cụ.
Các nhạc phẩm được lưu truyền trong dân chúng gồm có : « Trở Về Tây Nguyên » (Đỗ Lộc) cho đàn trưng và dàn nhạc dân tộc, « Khát Vọng Ba Dan » (Nguyễn Cường) cho đàn đinh pah của dân tộc Ê Đê và dàn nhạc, « Thúy Kiều » (Văn Thắng) cho đàn tỳ bà và tốp nhạc dây (2 viôlông, 1 viôla, 1 xenlô), « Biển Quê Hương » (Trần Quý) cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng, tổ khúc « Rừng Đêm Trăng » (Phú Quang) viết cho 5 loại sáo cải tiến píthiu, pípặp, sáo H’Mông, pítầmlay, pítốp) của một số sắc tộc Tây Bắc cùng dàn nhạc nhẹ Tây phương với trống mõ dân tộc . Nhạc cụ gõ rất được các nhạc sĩ dùng trong nhiều sáng tác đương đại như « Tiếng Pháo Giao Thừa » (Nguyễn Xuân Khoát), « Trống Cười Cưới Chồng » (Đỗ Nhuận), « Âm Vang Điện Biên » (Huy Thục) .
<blockquote><blockquote>5.Ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc điện ảnh</blockquote></blockquote>
Những loại ca kịch (kịch hát mới –comédie musicale ), và nhạc kịch (opéra) chỉ được phát triển thực sự từ 1985 trở đi. Vở kịch hát « Thạch Sanh Lý Thông » (Đức Minh) đã tạo thành công qua lần trình diễn đầu tiên năm 1985 tại Hải Phòng. Đề tài được lấy từ các truyện cổ tích như « Nàng Công Chúa Lên Rừng » (Văn Thành Nho), « Chuyện Tình Nàng Tiên Du » (Phó Đức Phương), hay đề tài trong đời sống hàng ngày như « Lửa Tình Trên Cát Trắng » (Vũ Ngọc Quang) , « Yêu Trước Phật Đài » (Trọng Đài), hoặc liên hệ tới văn học xứ người như « Tình Yêu Và Danh Dự » (Vũ Ngọc Quang) dựa trên Le Cid của Pierre Corneille thuộc xứ Pháp .
Nhạc kịch (opéra) theo kiểu opéra tây phương phải kể đến hai vở tạo tiếng vang nhiều nhứt sau 1975. Đó là vở « Nguyễn Trãi » (Đỗ Nhuận) được trình diễn lần đầu nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, và vở « Tình Yêu Của Em » (Tiếng Hát Xanh) (Nguyễn Đình Tấn) diễn lần đầu năm 1981 nói lên số phận của một số người trong cuộc chiến tranh cách mạng dành lại độc lập, tự do cho Việt Nam .
Vũ kịch (ballet) là một loại hình đã có trước 1975, dựa trên các vũ điệu sắc tộc Việt Nam nhưng chưa có hoàn chỉnh . Tổ khúc thơ múa « Giai điệu Niềm Tin » (biên đạo múa : Đoàn Long, nhạc của Hoàng Việt với nhạc phẩm « Giao Hưởng số 1 ») và thơ múa « Hồ Gươm » với Hoàng Đình Quý biên đạo múa, và nhạc của Cao Việt Bách . Từ năm 1990 trở đi, vũ kịch tái sinh và nẩy nở khắp nơi . Vở kịch múa « Ngọc Trai Đỏ » (Ca Lê Thuần) được ra mắt tại nhà hát lớn TPHCM nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn . Đa số đề tài vũ kịch đều hướng về các sắc tộc ở Việt Nam như « Hành Trình Đến Cõi Then » (múa do Lê Khình, nhạc của Phó Đức Phương), « Sự Tích Chiếc Khèn Bè » múa do Đoàn Long, nhạc của Vũ Duy Cường), « Huyền Sử Chiêng Cồng » (múa do Đoàn Long, nhạc của Đặng Nguyễn), « Huyền Thoại Trường Sơn » (múa do Bằng Thịnh, nhạc của Ngô Quốc Tính .
Nhạc kịch nói chỉ là nhạc đệm, nhạc nền (musique de fond) cho vở kịch. Loại này ít được phát triển. Một số nhạc sĩ đã thử thách qua một số kịch nói . Chẳng hạn như « Âm Mưu Và Hậu Quả » (Đàm Linh), « Hẹn Ngày Trở Lại » (Trọng Bằng), « Quyền Được Hạnh Phúc » (Hoàng Vân), « Cuộc Gặp Gỡ Muộn Màng » (Doãn Nho), « Ăn Mày Hạnh Phúc » (Huy Thục), « Chị Nhàn » (Tô Hải), « Đứng Gác Dưới Đèn Nêông » (Trần Ngọc Xương), « Nguồn Sáng Trong Đời » (Phó Đức Phương), và những nhạc sĩ khác như Ca Lê Thuần, Quang Hải, Phú Quang, Phạm Minh Tuấn, An Thuyên, Ngô Quốc Tính, vv…
Nhạc điện ảnh còn ở trong tình trạng sơ khai trong giai đoạn chiến tranh (1954-75) với chủ đề chiến tranh, giải phóng đất nước. Nhạc phim chuyên về nhạc hùng. Cuốn phim đầu tiên có nhạc loại giao hưởng của Nguyễn Đình Phúc được soạn nghiêm túc là « Chung Một Dòng Sông ». Sau đó có thêm nhạc sĩ khác như Hoàng Vân, Trọng Bằng, Hoàng Hiệp, Y Vân, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Phạm Minh Tuấn, vv…
Nhạc sĩ Hồng Đăng viết cho trên 70 phim đủ loại « Kén Rể », « Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ », « Đời Hát Trong », « Hạt Muối Của Biển », vv… Trọng Bằng, tốt nghiệp ở Nga Sô, viết nhạc loại giao hưởng cho các phim « Cù Chính Lan », « Hoàng Hoa Thám », « Ngôi Sao Tren Biển », vv… Đàm Linh tạo sự chú ý qua nhạc của phim « Trận Chiến Đấu Tiếp Diễn », « Đường Về Quê Mẹ », « Đứa Con Người Hàng Xóm », vv… với cách sử dụng nhạc khí Tây phương, hay hòa hợp Tây phương và Việt Nam . Hoàng Vân viết nhạc phim chuyên về nhạc giao hưởng cho cả trăm cuốn phim trong đó có phim được giải thưởng như « Con Chim Vành Khuyên », « Biển Gọi », « Em Bé Hà Nội ». Đặng Hữu Phúc khởi sự viết nhạc cuốn phim « Anh Và Em » từ năm 1986 và liên tiếp nhiều phim khác như « Tướng Về Hưu », « Người Đàn Bà Bị Săn Đuổi », vv… Gần đây Đặng Hữu Phúc sử dụng máy vi tính để viết nhạc phim. Trọng Đài viết nhạc phim từ 1989 như « Canh Bạc » , « Số Phận Của Một Tình Yêu », « Quạ Và Công » (phim hoạt họa). Đỗ Hồng Quân đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc của liên hoan phim toàn quốc lần 8 (1987) với phim « Thằng Bờm », liên hoan phim toàn quốc lần 9 (1990) với phim « Đêm Hội Long Trì », liên hoan phim toàn quốc lần 10 (1993) với phim « Cờ Lau ».
<blockquote><blockquote>6.Nhạc Giao Hưởng </blockquote></blockquote>
Trong thời gian 10 năm đầu (1975-1985) nhạc giao hưởng theo ngôn ngữ Tây phương cổ điển gặp khó khăn trong việc phổ biến. Nhưng sau đó, giới yêu nhạc cổ điển đông hơn, và nhiều nhạc phẩm được chào đời qua tài năng của các nhà soạn nhạc được huấn luyện tại Âm nhạc viện Hà Nội hay ở các âm nhạc viện Âu châu và Nga sô .
Đỗ Hồng Quân (« Chủ Đề Và Biến Tấu » cho dương cầm, « Rápxôđi Việt Nam »), Đặng Hữu Phúc (« Xô Nát Phúc Điệu » cho dương cầm), Nguyễn Văn Quý (« Xô Nát số 4 cho viôlông và pianô »), Nguyễn Cường (« Tứ tấu dây 94 »), Thụy Loan (« Khúc Trữ Tình » - Romance), Phúc Linh (« Ngẫu Hứng » cho ôboa, bátxông, và pianô), Xuân Tứ (« Bài Ca Chung Thủy ») mở màn cho những nhạc phẩm lớn theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại .
Nhạc giao hưởng thu hút một số nhạc sĩ như Doãn Nho (thơ giao hưởng « Thánh Gióng »), Nguyễn Thị Nhung (thơ giao hưởng « Khát Vọng »), Trần Trọng Hùng ( « Giao hưởng cho đàn dây và gõ »), Đàm Linh (giao hưởng « Không Đề ») , Nguyễn Đình Bảng (balát giao hưởng « Thị Kính Thị Mầu »), Trọng Bằng (« Người Về Đem Tới Ngày Vui »), Trần Ngọc Xương (« Trăm Sông Đổ Về Biển Lớn »), Lê Khiêm Hoàn (tổ khúc giao hưởng « Hội Được Mùa »), Đặng Văn Bông (‘Mẹ Và Đất Nước », Trần Trọng Hùng (« Trở Về Với Điện Biên »).
Loại hình hòa tấu (concerto) cho nhạc cụ và dàn nhạc không thấy trong nhạc Việt Nam cho tới năm 1985. Một số nhạc phẩm dùng nhạc khí cổ truyền dân tộc cho phần độc tấu (Quang Hải với nhạc phẩm « Hòa Tấu Số 1 » chủ đề 1 cho đàn tranh và dàn nhạc « Quê Tôi Giải Phóng ») . Điển hình là các nhạc sĩ Ca Lê Thuần (« Hòa Tấu Nhỏ Cho Pianô Và Dàn Nhạc ») Phạm Minh Tuấn (« Bất Khuất »), Trọng Đại (« Hòa Tấu Cho Dàn Nhạc »), Đỗ Hồng Quân (« Hòa Tấu Cho Viôlông Và Dàn Nhạc »). Chủ đề để sáng tạo nhạc giao hưởng, hòa tấu dựa trên làn điệu dân ca, thang âm điệu thức nhạc dân tộc. Trong sự phát triển các nhạc phẩm, đa số các nhà soạn nhạc chú tâm về các bè theo chiều ngang . Nhưng cũng có một vài nhà soạn nhạc trẻ như Vũ Nhật Tân (« Ký Ức ») tạo sự gặp gỡ các âm theo chiều dọc .
Giá trị âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bi thảm, khó khăn mà chúng ta hiện nay đang trải qua, sẽ được chấp nhận, hay bị đào thải là do nơi sự cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi nghệ sĩ. Khi chúng ta tự hào nhạc của tổ tiên và hãnh diện khi học hỏi cũng như lúc trình diễn, tìm đủ mọi cách để vun bồi, phát triển và truyền lại cho đám hậu sinh theo một đường lối tốt đẹp, phản ảnh dân tộc tính thì trong tương lai, nhạc Việt sẽ được nẩy nở ngày càng đẹp hơn, giàu hơn, phong phú hơn để tạo một chỗ đứng vững mạnh trong vườn nhạc Á châu. Chính dân tộc Việt Nam sẽ quyết định sự sống còn của nền âm nhạc Việt trong tương lai. ----End---

linhtranmienxa
10-27-2008, 02:43 PM
đọc chưa hết bài mà con mắt tui muốn nổ đom đóm luôn,thanks DCFVietnam