View Full Version : Quá khứ ngủ yên
ngay09
07-24-2007, 10:54 PM
BÀI GHI LẠI LỜI PHỎNG VẤN CỦA
LÊ XUÂN TRƯỜNG VỚI ÐIÊU KHẮC GIA NGUYỄN THANH THU VỀ
BỨC TƯỢNG “TIẾC THƯƠNG” Ở NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA.
--------------------------------------------------------------------------------
LỜI GIỚI THIỆU: (Trích từ ASIA VIDEO 36, Chủ đề: LÍNH)
Một trong những người mà LÊ XUÂN TRƯỜNG mời quý vị theo dõi buổi nói chuyện hôm nay, anh là một Ðiêu Khắc Gia, người đã để lại bức tượng nặng 10 tấn, cao hơn sáu thước taị Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, nghĩa trang nơi hàng ngàn người lính VIỆT NAN CỌNG HÒA đã nằm im trong giấc ngủ ngàn thu vẫn chưa được tìm thấy những giây phút thật thanh bình. Thưa quý vị, Ðiêu Khắc Gia NGUYỄN THANH THU, tác giả của bức tượng TIẾC THƯƠNG:
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa anh Thu. Trước đây ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, mình có Nghĩa Trang nào trước đó?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðể trả lời anh Xuân Trường. Sỡ dĩ mà Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa nó được hình thành sau Nghĩa Trang ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp, trước đó chưa có Nghĩa trang Biên Hòa chỉ có Nghĩa trang Hạnh Thông Tây Gò Vấp . Qua cái năm đó, vụ năm 68 vừa xong thì Mỹ đổ thêm quân tham chiến , một cuộc chiến ác liệt, cho nên, lúc bây giờ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây đã không có chỗ còn để chôn nữa, cho nên chính phủ mới thành lập Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau khi đề án Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa được thành lập ra để giao cái Nghĩa trang Hạnh Thông Tây quá chật chỗ, không còn đất để chôn cất nữa.Vậy ai là người đưa ra cái đề án đó?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, cám ơn anh XuânTrường. Nguyên nhân là, lúc đó, Tổng Thống VNCH, ông Nguyễn Văn Thiệu, ổng có biết là ở bên Phi Luật Tân có một nghĩa trang mà Phi nó tự cao lắm, tự hào lắm, nghĩa trang đẹp nhất ở Á Châu. TổngThống mới mời tôi lên để nói tôi qua đó nghiên cứu có cái gì bên đó để về thành lập Nghĩa Trang Biên Hòa của mình. Tôi được đi qua nghiên cứu cái nghĩa trang đó. Khi trở về, tôi trình dự án đó cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Từ đó, dự án được bắt đầu đưa qua cho Công Binh thực hiện, ủi đất để xây cất, đất đang ủi, đang làm xa lộ ở đó.
Lúc bấy giờ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có mời tôi lên, ổng có cho tôi biết, ổng có ý muốn là làm thế nào để thực hiện một tác phẩm gì đó ở Nhgĩa Trang Biên Hòa. Từ xa lộ đi vô trong có một khúc lộ, ổng muốn đặt trước Nghĩa trang, trước khi vô trong, phải có tác phẩm gì đó. Ổng kêu tôi về suy nghĩ để thực hiện cái tác phẩm nầy. Lúc bây giờ, tôi muốn xin ý Tổng Thống một lần nữa, Tổng Thống cho biết cái ý nghĩa, quan trọng lá cái ý nghĩa như thế nào. Tổng Thống trả lời với tôi, TổngThống nói: “ Theo tôi thì mình làm thế nào để hậu phương biết cám ơn chiến sĩ của mình mà họ đã chết chóc ngoài chiến trường”.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Như vậy, Tổng Thống muốn có một bức tượng đặt ở Nghĩa trang để vinh danh, đặt ở ngoài cổng?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. Sau nầy, ổng hỏi khi nào có thể trình dự án được. Tôi có trình lại với Tổng Thống, Tổng Thống cho tôi suy nghĩ một tuần lễ, tôi sẽ trình dự án như Tổng Thống muốn. Lúc đầu, ông Tổng Thống mới bấm chuông, ông Ðại tá Cầm bước vô, Tổng Thống nói: “Ông Thu có hứa với tôi là khoảng một tuần lễ ổng sẽ trình dự án”. Sau nầy ra về, ổng có vỗ vai tôi và nói: “Anh là cục nhưn đó nghe, nghĩa trang của mình có cục nhưn, anh làm thế nào , tôi hy vọng ở anh đó nghe”. Tôi ra về.
Công việc đầu tiên nằm trong trứng nước, trong bụng tôi, nó bào bào, cái ý nầy, ý kia, nói đi nói lại, tự hỏi lòng mình tìm đề tài.Trong thời gian đó, tôi hứa với Tổng Thống một tuần lễ, từ thứ hai đến thứ sáu. Tôi nhớ rõ lắm.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Trong một tuần lễ, anh có nghĩ là anh sẽ kịp để tìm đề tài?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó! Ðó! Ðã hứa rồi, trong cái tuần lễ đó, công việc gì cũng bỏ hết, mình không có làm chi hết. Tôi nghĩ, tìm cái đề tài gì đây? Tác phẩm gì đây? Lúc bấy giờ, Nghĩa trang Biên Hòa đang ủi đất, đang thành lập chứ có gì đâu? Tôi mới đi lên Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Lúc bấy giờ, chiến trường đang ác liệt, trực thăng nó xuống ào ào, chiều nào trực thăng cũng đem xác về, đến nỗi mà trong nhà kho xác, rồi một dãy hòm hai ba chục cái đang sắp ngang đó.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Không có đất để chôn phải không ạ?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Có đất chôn nhưng cũng gần hết đất rồi nhưng mà xác nhiều đến nỗi trong mấy cái hòm ướp xác, rồi mấy cái hòm đang để dài dài, rồi mấy cái đang chôn nhiều đến nỗi phải làm tạm lều ra ngoài, cất lều, che sơ sơ để chất xác cho trực thăng mỗi chiều nó xuống. Tôi ở đó được ngày thứ hai đến thứ sáu, cảnh chết chóc thì quý vị đã biết, ngày nào cũng khóc la, rồi con cái, vợ nữa, ôm nấm mồ khóc thiêùt tha trên nấm mồ, cảnh đau thương lắm. Tôi ở đó được sáu ngày như vậy, khi ở được sáu ngày rồi , ngày mai nữa là hết ngày, đến ngày phải trình Tổng Thống, cho nên đến buổi trưa thứ sáu, đây là câu chuyện thật, tôi cứ nôn nóng như vậy.Trưa thứ sáu thì tôi từ nghĩa trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, tôi về Gò Vấp. Ở vùng Gò Vấp, nắng quá, tôi mới vô kiếm nước uống. Tôi quẹo đai vào một cái quán gần căn phố. Vô tình , tôi kêu một ly nước chanh uống, bỗng nhiên, tôi thấy một anh lính Nhảy Dù, ảnh vô đó từ trước, ảnh cũng từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây về trước đó. Khi tôi bước vô thì tôi dòm qua ảnh, thấy ảnh đã uống đâu bốn năm chai bia rồi, thì thôi, tôi cũng không nói gì. Nhưng có một điều lạ, tôi thấy ảnh đang nói chuyện với cái ly, ảnh là binh chủng Nhảy Dù, ảnh để cái nón nhảy dù trên cái bàn, mặc áo nhảy dù đàng hoàng, ảnh đang uống và đang buồn, đang nhớ bạn. Một ly ảnh uống, một ly ảnh cúng, ảnh rót bia vào cái ly cúng đó, rồi ảnh nói chuyện với cái ly như có người bạn trước mặt ảnh vậy, ảnh cằn nhằn, ảnh đau đớn cho người bạn của ảnh đã mất, . Khi tôi dòm thấy được cái hình ảnh mà ảnh vừa nói vừa gục đầu xuống bàn, vừa khổ sở với cái ly đó, ảnh vừa uống vừa cúng. Tôi chờ một chút nữa rồi bước qua làm quen. Tôi cầm cái ly nước chanh, bước qua, tôi đứng kề ảnh, bên cái bàn của ảnh, tôi xin phép ảnh:
-Anh à, tôi muốn ngồi kề với anh, uống với anh được không? Thấy anh buồn, tôi muốn ngồi với anh.
Tôi thấy ảnh không trả lời tui, ảnh ngồi gục trên cái bàn, ảnh hất cái mặt lên, có vẻ như không bằng lòng khi có người thứ hai quấy rầy ảnh.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Có thể cái giây phút đó, ảnh quá đau lòng, ảnh muốn có một sự riêng tư?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ đúng! Ảnh muốn có một sự riêng tư. Mặt tôi hơi sượng, mấy cô trong quầy cười khúc khích, nãy giờ, cái anh nầy nói chuyện với cái ly không, mà bây giờ có thêm một thằng điên qua nói chuyên với ảnh, mấy cô chắc nghĩ như vậy, thấy mấy cô cười khúc khích với nhau. Nhưng mà trời thương, tôi có hỏi giấy tờ của ảnh, ảnh gục cái đầu xuống, tôi đứng trơ trẽn ở đó. Bỗng nhiên, ảnh móc ở túi sau, ảnh móc giấy tờ, ảnh đưa cho tôi. Tôi đâu có phải Quân Cảnh mà hỏi giấy tờ của ảnh, thế mà ảnh đưa cho tôi. Tôi cầm cái bóp rồi trở về cái bàn của tôi, tôi lấy giấy tờ ra hết. Tôi ghi tên của ảnh, ảnh là VÕ VĂN HAI, hạ sĩ VÕ VĂN HAI, tôi nhớ rõ như vậy. Ở tiểu đoàn nào tôi quên rồi, tôi ghi hết cái KBC. Xong rồi, tôi đem cái giấy đến trả lại, ảnh cũng không cần biết nữa, lấy bỏ túi thôi, không nhìn tôi mà. Tôi trở về bàn, tôi ngồi để nhìn một chút xíu nữa. Rồi, tôi thấy câu chuyện nó như vậy.
Trưa đó tôi về, dĩ nhiên là ảnh còn ngồi đó, tôi lo đi về, tên tuổi của ảnh tôi còn để đây. Tôi về đến nhà.
Khuya hôm đó, tức là tối thứ sáu, tôi bắt đầu vẽ, để sáng thứ bảy trình. Thưa, tối thứ sáu, khi tôi ngồi lại cái bàn, từ 8 giờ tối cho đến 6 giờ sáng , tôi vẽ được 7 bản, bảy bản bự như vầy, vẽ màu đẹp lắm. Lúc bấy giờ, thưa quý vị, khi tôi ngồi ban đêm đó, tôi mới liên tưởng đến chiền trường. Dạ thưa, lúc bây giờ chiến trường, đêm đêm, tiếng súng nó dội về, ầm... ầm , mấy cái cửa kiến rung hết, B52 bay thả bom, cửa kiến ở nhà rung... rung. Rồi mưa tháng tám nữa, mưa lất phất... lất phất ở ngoài đó, cũng đau lắm, tôi ngồi thấy cũng thấm lắm, ngồi nghe mấy tàu lá chuối, nước nó rơi, rồi ầm..ầm. ..rồi ầm...ầm, B52 rót rầm...rầm... rầm...rầm. Thế mà, nó cũng gợi cho tôi, để cho tôi vẽ chiến trường. Dạ thưa, tôi vẽ 7 bản to như thế nầy, vẽ về chiến trường, chiến trường lúc bấy giờ thì người lính mặc áo mưa, cũng thê thảm lắm, gió lất phất, rồi kia, nọ..., người lính đi tới đi lui, lo nhiệm vụ canh gác trong đêm trường cực khổ, ở sau hậu phương, người ta êm ấm như thế nầy mà ở chiến trường thì nó như vậy. Tôi nhớ đến người lính, tôi mới vẽ 7 bản ở chiến trường, một đề tài nhớ chiến trường, vẽ chiến trường. Tôi vẽ như vậy cho tới sáng, tôi nhớ cái gì chút đỉnh thì tôi vẽ tới đó, có ý gì ngộ ngộ nẩy ra thì tôi ghi lại để sáng mai trình với ổng, ghi sơ sơ lên đây. Tôi vẽ tới sáng, cho tới 6 giờ sáng. Tôi vẽ được 7 bản xong rồi, tôi thấy mệt, trời lạnh lạnh nữa, tôi buông cọ ra, mới lủi vô giường nằm. Nằm một chút xíu thì nghe một tiếng chó sủa ào một cái, nhà tôi nuôi chó cỏ nhiều lắm, anh Trường. Mấy con chó sủa ào lên một cái, tôi hay quạu lắm, tôi kêu: “Bà làm gì đàng trước vậy? Ai đàng trước vậy? Gì đàng trước vậy?”. Bà xã tôi nghe chó sủa là bả lo, bả ra trước rồi, bả coi cái gì đây? Một chặp, khoảng vài phút sau, bả vô nói: “Có người đến mời ông đi trình dự án”. Tôi mới nói, trình dự án gì mà mới mờ mờ đất mà dự án...dự án. Tôi nói vậy mà ông ở ngoài đó nghe, rồi ổng trả lời lớn: “Tôi vô sớm ông Thu! Tôi vô sớm mời ông đi ăn sáng, rồi mình đi lên trển”, cuối cùng, tôi đi với ảnh.
Giờ đầu tiên gặp Tổng Thống, Tổng Thống Thiệu đó, lúc bấy giờ đang ở trong Bộ Tổng Tham Mưu, ổng mang lon Trung tướng. Ngày đầu tiên tôi hẹn với ổng, sau một tuần lễ, đi trình, tôi nghĩ ổng ở Tổng Tham Mưu chứ đâu. Thế nhưng, ông nầy, ổng đưa tôi đi Sài Gòn ăn sáng ở nhà hàng gì đó, đả đời, rồi 9 giờ, ổng mới bắt đầu đi, lên xe jeep, ổng chở đi vô dinh Gia Long. Tôi hỏi, quẹo vô đây chi vậy? Tôi nhà quê lắm! “Vô đây ông Thu, vô đây không sao, cũng được vậy thôi”. Ông ta nói vậy. Rồi vô dinh Gia Long, ổng trình cho Ðại tá Cầm, ông Cầm, ổng nói liền: “Ông Thu ơi! Bữa nay không có anh là chết tui, tôi chờ anh đầu giờ, bây giờ trễ một, hai phút. Giờ có ông Thiếu tướng, ổng vô trước, đáng lẽ anh đầu giờ nhưng có Thiếu tướng vô trước, chút xíu ổng ra, tới anh đó”. Lúc đầu, Ðại tá còn lịch sự hỏi nầy no., dự án, anh có ưng ý không? Vì lịch sư, hỏi qua, hỏi lại vậy thôi. Tôi ngồi đó, còn Ðại tá cũng làm việc của ổng.
Tôi đứng dậy, tôi ra ngoài hành lang, ở dinh Gia Long có cái couloir dài, có hàng ghế đỏ, có mấy cây cột xưa của mình. Tôi đi qua, đi lại, rồi tôi ngồi xuống. Tại sao vậy? Ðó, rồi mình tự hỏi, tại sao mình lại vẽ chiến trường, 7 bản chiến trường. Thôi, bây giờ mình không vẽ chiến trường, mình vẽ anh Võ Văn Hai được không? Rồi mình tự hỏi, vẽ thế nào? Võ Văn Hai phải như thế nào? Tôi ngồi xuống, tôi bố cục, tôi nheo con mắt lại, tôi hình dung trong trí não của tôi đàng hoàng. Tôi nghĩ đến thế người ngồi, ngồi ra làm sao, làm sao? Tôi vẽ trong trí tôi, tôi đứng dậy, tôi chạy vô, lúc nầy tôi tập trung cái đó rồi, tôi tập trung cái bố cục rồi, mà ai hỏi tôi chắc là chết.
Tôi chạy vội vô phòng của ông Ðại tá Cầm, thấy phòng nó nghiêm nghị quá, mình muốn hỏi xin tờ giấy ghi liền mấy cái nét mình suy nghĩ, giống như con khỉ vậy, tôi móc đại tờ giấy pelure , rồi xin cây viết nguyên tử. Tôi ngó phía sau lưng của ổng, có thùng rác, trong quân đội có giỏ rác bằng lưới, trong có bao thuốc lá, tôi lấy bao thuốc ra và mở ra. Tôi trở lại cái hành lang, tôi banh bao thuốc lá ra, có miếng giấy trắng ở trong, tôi mới vẽ xuống, vẽ cái bố cục mà mình mới nghĩ ra.
Lúc đó, nó khiến tôi như thế nào không biết, tôi vẽ xuống, tôi thấy tôi ưng ý, mình đã vẽ 7 bảy bản ghê gướm, vậy mà cái nầy vẽ sơ sơ, vẽ tốc họa, sao mình thấy khoái khoái. Vừa khoái khoái, bỗng nhiên chưa có quyết định gì, ông Ðại tá, ổng hỏi: “Anh Thu đâu rồi? Anh Thu đâu rồi? Ðây rồi! Ðây rồi. Anh vô. Anh vô”.
Tôi vô, dĩ nhiên cái bao thuốc lá tôi cầm ở trên tay và 7 bản kia, tôi ôm kè kè đi vô. Vô chào Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu đang ngồi, kính chào Tổng Thống rồi thôi. Tôi trải 7 bản dưới sàn dinh. Tôi trải xong, tôi cầm bao thuốc lá nầy chạy qua kính mời TổngThống qua duyệt xét, Tổng Thống góp ý, có cái gì, bổ túc ý kiến của Tổng Thống, tôi vẽ như vầy đó, tôi vẽ 7 bản chiến trường.
Ổng bước ra coi, tôi đệm nhẹ vô, chiến trường là nơi gió táp mưa sa, chiến sĩ mình phải canh gác cực khổ thế nầy, thế nọ, đêm đêm, ngày ngày, ở hậu phương thì ngủ êm ấm, công ơn chiến sĩ mình, làm sao mà quên ơn được. Thế là, tôi nói chuyện với ổng, ổng làm thinh, ổng ngồi ổng nghe, rồi ổng qua coi. Khi đó, lúc bấy giờ tôi làm thinh. Tổng Thống đi qua, đi lại vài lần nữa. Rồi ổng đứng lại sát bên tôi, ổng có nói một câu dễ thương lắm, ổng nói: “Bây giờ thế nầy nè, tôi nghĩ anh là cha đẻ của nó. Tôi thì muốn chọn một bản, tôi thấy bản nầy tôi cũng thích, mà bản kia nữa tôi cũng thích, vậy theo anh, anh thích bản nào. Tôi thấy bản thứ hai nầy cũng được, mà bản thứ năm nầy cũng hay đó. Anh thích bản nào?”.
Ổng hỏi vậy, thì tôi xin phép, tôi nói thế nầy: “Dạ, kính thưa Tổng Thống, tôi không dám, nếu Tổng Thống cho tôi chọn lại theo ý tôi, mới đây thôi, cái nầy, tôi hơi quá vô lễ. Da., tôi mới vừa nghĩ ra, tôi vẽ vội trên bao thuốc lá, tôi làm như vậy hóa ra tôi quá vô lễ với Tổng Thống”.
Tổng Thống nói: “Không. Không. Anh đưa tôi coi”. Tôi lấy bao thuốc lá ra đưa cho ổng, Tôi chỉ vẽ thế ngồi thôi. Thưa Tổng Thống, tôi thích cái nầy. Tôi nói vậy. Ổng cầm bao thuốc lá, ổng kéo tôi tới bureau của ổng, hai ghế chụm lại. Ổng dặn tôi câu nầy: “Anh Thu à! Người nghệ sĩ mà, họ lãng mạng lắm, họ hay lãng mang lắm, mà chiến sĩ của mình không phải thế đâu, phải có đề tài, mà anh vẽ cái đề tài gì đây? Anh cho tôi biết cái đề tài, lãng mạng không nên có trong cái tác phẩm nầy”.
Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ ra được những đề tài như thế nầy: thứ nhất:: KHÓC BẠN, thứ hai: TÌNH ÐỒNG ÐỘI, thứ ba: NHỚ NHUNG, thứ tư: THƯƠNG TIẾC hay TIẾC THƯƠNG.
Tổng Thống nói: “NHỚ NHUNG là không được! Không được, thứ tư là THƯƠNG TIẾC, TIẾC THƯƠNG. Ừ, TIẾC THƯƠNG THƯƠNG TIÊC đi”.
Rồi Tổng Thống nói tôi về, ổng còn dặn tôi: “Anh nhớ người lính của mình đó, là buồn, là tiếc thương bạn mình nhưng cũng phải tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu, không có quên tay súng, cây súng phải giữ, chứ không phải vứt súng bừa bãi. Cái buồn nầy, phải tiếp tục chiến đấu, Việt cọng nó trường kỳ lắm, nó mai phục dữ lắm, mình phải có cái lâu dài đó. À, anh Thu ơi! Anh có thể vẽ riêng cái nầy cho tôi được không? Vẽ lớn cái nầy như 7 bản kia vậy đó”ù.
Tôi trả lời: Dạ được. Dạ được.
Khi đó, ông Ðại tá Cầm bước vô. Bây giờ ổng đưa bao thuốc lá cho tôi. Tổng Thống nói với ông Cầm: “Anh chuẩn bị những vật liệu cho anh Thu, ảnh vẽ gấp cho tôi cái nầy”. Ông Cầm trở ra. ông tướng còn ngồi ở đó, ổng thấy câu chuyện lạ lạ, ổng nán lại xem có cái vụ gì?
Ông Cầm hỏi:”Anh cần gì?”.Tôi nói: “Anh cho tôi tờ giấy lớn như vậy đó, với cái bảng đen, giấy bút, có màu gì bỏ ra hết đây”. Ổng cho người ùn ùn đem đồ ra đó ngồi vẽ.
Thưa, lúc bấy giờ, tôi mới bắt đầu, bắt đầu ra tay, tôi day lại, thấy những người đứng xung quanh tôi đông lắm. Tôi nói:
“Kính thưa Thiếu tướng, Ðại tá, quý vị, trong khi tôi vẽ, xin đừng có ai hỏi tôi hết. Tôi vẽ, quý vị hỏi, tôi phân tâm, tôi không trả lời thì đâm ra vô lễ. Xin cho tôi tập trung ở đây, đừng hỏi”.
Thưa quý vị, dĩ nhiên là người nghệ sĩ nào cầm cây vẽ cũng ngắm tờ giấy trắng trước, cho nó lọt vô, cái bao thuốc lá, nó phải lọt vô tờ giấy, phải vẽ sao cho nó lọt vô, mà phải vẽ gấp rút. Tôi vẽ....vẽ....Tôi lo làm. Lúc bấy giờ như nó khiến, thưa quý vị, bấy giờ, tôi không biết là tôi vẽ hay là cái gì vẽ (cười). Tôi không hiểu được, tôi phá tới đâu, tôi vẽ tới đâu, nó dính ngay tới đó, nó lọt trọn vô tờ giấy rất đẹp, giống như mình vẽ hai ba ngày trước! Ðó, tôi phóng lên những nét đại cương là quý rồi, tạo được cái hình ảnh là chiến sĩ ngồi. Lúc bây giờ tôi mới day ra phía sau, tôi thấy mọi người đang đứng quanh tôi. Ông Cầm hỏi liền:
-Anh cần gì, anh nói chứ làm sao tôi biết được!.
-Dạ thưa Ðại tá, tôi cần người mẫu. Cái nét đại cương tôi có rồi, bố cục đầy đủ rồi, tôi muốn vô chi tiết chút xíu, cái nét áo nhăn, cái nét quần nữa, chút xíu nữa cho nó trung thực”
Rồi ổng ngó ngó, ai cũng hơi ngờ ngợ, không biết ai. Ổng nói: “Tôi được không?”. Trời ơi! Lính gì ngoài chiến trường mà áo quần ủi hồ ngon lành, tóc tém rồi chải...” Tôi nghĩ vậy. Ổng mặc áo quần đẹp lắm, áo quần ủi hồ láng thẳng đẹp đẽ. - “Thôi, thôi, tôi làm rồi, Ðại tá cho tôi cây súng”.
Thưa quý vị, bấy giờ là năm 1966, lính mình còn xài súng garant M1. Ổng mang súng ống vô, nịt đạn, bi- đông nước đàng hoàng, coi như tác phẩm bây giờ đang chiếu đó,đội nón sắt nữa, rồi ổng ngồi xuống đó. Ổng là người mẫu đầu tiên, tôi lấy mẫu đai cương đó. Khi ổng ngồi xong, khoảng năm phút sau thôi, tôi ghi thêm vài nét, chính tôi đã đi hết 85% rồi, tôi chỉ thêm vài nét cho nó rõ, giữa hai cái đó, trung thực không cách xa bao nhiêu. Tôi thấy được rồi. Khi tôi vẽ lớn ra xong, tôi trình Tổng Thống, Tổng Thống đã ký cho tôi xong hết.
Dĩ nhiên, khi trở về tôi phải lo, nhứt là thời gian phải cho kịp, còn ba tháng nữa là đến ngày1 tháng 11 năm 66. Ổng ký là tháng 8 rồi. Tôi phải lo gấp rút người mẫu, kiếm Võ Văn Hai. Thưa quý vị, địa chỉ tôi đã ghi rồi lúc ở ngoài quán đó, tôi có kể.
Tôi lại ngay đơn vị của ảnh, được gặp ông Thiếu tá Chỉ huy trưởng của anh Võ Văn Hai, tôi trình bày cho ổng. Trước khi đi đâu, tôi cũng mang theo mẫu mà Tổng Thống ký cho tôi. Rồi ổng coi, lúc đầu, Thiếu tá còn hơi lo, nghi nghi, ngờ ngợ. Thế nhưng, sau câu chuyện rồi, ổng thấy, có lẽ ổng hãnh diện được chọn cái đơn vị của ổng, trong tiểu đoàn của ổng, trong đại đội của ổng. Ý ổng, ổng có nói một hai câu như vậy. Do đó, ổng có nói như thế nầy:
- Ổng yêu cầu gặp anh Võ Văn Hai, tôi thấy chưa hay đâu, tôi nói thật với anh, tôi cho anh một đại đội, mặc sức mà chọn, nhiều thằng một thước bảy, một thước tám mươi mấy, thước chín, mề-đay đầy người, to lắm,chiến công dữ dằn lắm.
Tôi nói: “Dạ thưa Thiếu tá, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai, thật sự là đủ rồi”.
-Á! Á! Ðừng cãi tôi! Tôi sẽ cho một đại độI đó.
Ổng nói rồi, ổng làm luôn, ổng kêu một Thượng sĩ bước qua:
-Anh cho tập họp một Ðại đội, Ðại đội súng ống đàng hoàng , ngay ở Bộ chỉ huy của tôi, nhé!
Ổng truyền lịnh đi rồi, lâu lâu, thỉnh thoảng ổng mới coi lại chữ ký của Tổng Thống, rồi ổng nói vô chi tiết nữa để chờ Ðại đội kia dẫn lên.
Thưa quý vị, khi đó thì nghe đàng trước rần rần, ê ét đàng trước rần rần rồi. Tôi thấy Ðại đội ra trình diện ở trước. Ông thượng sị bước vô:
-Thưa Thiếu tá, Ðại đội tập họp xong. Ổng bước ra, cầm cái can, đội nón nhảy dù, ổng nói:
-Anh theo tôi, tha hồ anh chọn, to lắm, to lắm, đủ màu, đen đỏ, có đủ hết, Võ Văn Hai, ăn thua gì! Anh ra đây, kìa...kìa...
Lẽ dĩ nhiên, tôi bước ra, người to con thì đứng đầu , ở cuối thì nhỏ và thấp. Tôi thấy dữ dằn thiệt.
-Người nầy là một thước tám mươi mấy đó, dữ dằn nữa, Võ Văn Hai ăn nhằm gì”.
Ổng vừa nói, ông Thiếu tá biểu một anh bước ra, anh bự con bước ra, qua người thứ hai cũng bự con nữa.
Tôi làm thinh, bây giờ tôi mới sực nhớ ra, tôi vội bỏ ông Thiếu tá ở đó, tôi chạy lùn lùn xuống hàng, tôi kêu:
-Anh VõVăn Hai đâu? Anh Võ Văn Hai đâu? Lên tiếng, lên tiếng!
Cuối cùng tôi chạy xuống hàng gần cuối, ảnh đâu có 1mét 6 à! Ảnh nói:
-Em đây! Em đây!
Tôi lôi ảnh ra ngoài hàng. Ổng chọn được bốn người, anh Võ Văn Hai nữa là năm.
Thôi, thôi! Thiếu tá!, Ðủ rồi! Ðủ rồi! Tôi la lên.
-Chọn nữa không? Chọn bao nhiêu thì chọn. Tôi cho anh mà! Bây giờ anh nói chuyện cho mấy người nầy biết đi, tất cả năm người đó.
Ðại đội dẫn về, tôi mời mấy anh nầy vào câu lạc bộ, biểu mấy anh về cất súng đi. Tôi có nói với mấy ảnh như thế nầy:
-Thật sự, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, nhưng ông Thiếu tá, ổng tốt bụng cho thêm bốn anh nữa. Thôi mấy anh về nghỉ đi, cứ nghỉ ba tháng nhưng đừng ra ngoài đường, đừng mặc đồ lính, Quân Cảnh nó bắt, tôi không có thì giờ đi lãnh về. Cứ một tuần lễ, tôi ký giấy phép cho mấy anh.
Thế rồi, ngày ngày anh Võ Văn Hai cứ vô nhà tôi làm mẫu.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Tại sao cái hình ảnh anh Võ Văn Hai cứ in trong tâm khảm của anh, phải là Võ Văn Hai. Có phải vì Võ Văn Hai ngồi trong quán nước khóc thương người bạn mà làm cho anh xúc động?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó, , chính cái lẽ đó, chính cái yếu tố quan trọng đó, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, vì lịch sư, ổng cho bao nhiêu thì cho, cứ để đó cho nghỉ phép luôn, lợi dụng cái dịp nầy để mấy ảnh khỏi ra chiến trường.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh Võ Văn Hai lúc đó ở binh chũng Nhảy Dù?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, Nhảy Dù, hạ sĩ. Anh về nhà tôi, hàng ngày, cứ sáng sáng, ảnh đạp xe đạp vô nhà, đồ lính cất trong nhà, rồi nịt đạn vô hết, lên ngồi làm người mẫu. Chúng tôi làm như vậy, anh em chúng tôi làm việc, công việc làm như vậy đêm ngày. Lúc bấy giờ anh Võ Văn Hai cứ lo săn sóc tôi không à, ảnh không phải như hồi trước, nhưng mà tôi chỉ cần ảnh không cần tới tôi mà ảnh chỉ nghĩ tới người bạn, thương buồn, để nhớ thôi. Một buổi nọ, tượng gần xong, tôi làm một cú lẩy, anh Võ Văn Hai vẫn vô bình thường, tôi nói với ảnh:
-Anh lấy ghế nồi đàng hoàng nghe! Bữa nay tôi theo dõi thêm, tôi so sánh giữa anh và bức tượng chút xíu nữa.
Anh Võ Văn Hai ngồi, lúc bấy giờ tôi không có làm, những ngày trước thì tôi làm nhưng bữa nay tôi để ảnh ngồi không. Dĩ nhiên, khi ảnh ngồi không đó, ảnh chờ tôi. Tôi vô trong nhà, tôi dòm qua lỗ gió, tôi dòm lén ra, khi chờ lâu thì ảnh ngồi mới nhớ lại, hoàn toàn trở lại hồi cũ ở quán nước, nét mặt ảnh buồn như trước. Khi ảnh buồn thật sự, trong nầy tôi lấy cây viết chì với miếng giấy tôi ghi, tôi chỉ ghi nét mặt thôi, nó rủ xuống thế nào, tôi vẽ như thế ấy, tôi vẽ cái môi, cái miệng, cái mũi thôi. Sau ba tháng ảnh ngồi làm mẫu, bây giờ thêm cái chi tiết nầy, cái nét buồn nào nó đi tới. Xong rồi, tôi bước ra, tôi nói với ảnh:
-Xong rồi! Xong rồi! Anh về nghỉ đi, vài ba bữa vô cũng được, anh muốn nghỉ giờ nào thì nghỉ, giờ nào muốn vô thì vô, không bắt buột, được rồi, đủ rồi, nhe!.
Anh Võ Văn Hai lấy làm lạ, ảnh nói:
-Tôi chưa làm mà Ðại úy nói tôi nghỉ.
Tôi trả lời:
- Làm rồi! !àm rồi! Tôi vẽ lén anh mà.
Thế thì ảnh về, ảnh còn thắc mắc, đi ra sau hè, nói với bà xã tôi: “Thưa bà, tôi thấy ổng không làm, không biết ổng giận tôi cái gì mà ổng nói tôi về, đừng có vô nữa cũng được”.
Bà xã tôi nói lại: “Ờ, cái ông đó, ổng biểu sao hay vậy, không có giận anh đâu. Anh Hai cứ nghỉ tự nhiên”. Rồi ảnh ra về.
Thưa quý vi, khi ảnh về, bức tượng đã gần xong rồi, chỉ còn cái nét buồn nữa thôi. Khoảng ba giờ khuya, tôi sáng tác 3 tháng trời, tôi lao đao lận đận lắm, ăn uống không yên, ngủ không được, trong bụng cứ bào bào, cứ nhớ lại hình ảnh Võ Văn Hai buồn. Tôi ngủ được chút xíu, bây giờ là ba giờ khuya, cái nét buồn tôi ghi lại buổi sáng. Lúc bấy giờ tôi tắt đèn hết, tôi cầm cây đèn cầy, đồ đạc tôi chuẩn bị hết rồi, để trên cao hết rồi. Ðêm khuya, không có gì bằng đêm khuya vắng vẻ. Thưa quý vị, mình nói với cái tượng đó, khi mình cầm cây đèn cầy để tìm ánh sáng, cây đèn cầy dễ lắm, khi tôi cầm cây đèn bên nay thì ánh sáng bên nay tạt qua, và khi tôi cần ánh sáng bên kia thì tôi cầm cầy đèn đưa qua bên đó. Tôi đưa lên , đưa xuống..., một tay tôi cầm đèn di chuyển, một tay tôi làm. Ban đêm tôi làm, tôi nhớ, trên cái giàn cao như vậy, lạnh lẽo như vầy, tôi làm tới 6 giờ sáng, lại 6 giờ sáng nữa, tôi thấy đẹp quá, tôi thấy nét mặt của tượng buồn quá, buồn lắm, nhưng mà thôi, tôi đi ngủ.
Nằm chút xíu, trời sáng rồi, đã 8 giờ sáng , ánh mặt trời sắp sửa ló lên. Tôi chạy ra coi có giống như hồi hôm không? Hồi hôm thấy nó buồn, nhưng cũng còn nghi nghi nữa. Thấy y chang như hồi hôm, tôi mừng quá.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau biến cố tháng 4 năm 75, anh Thu phải đi tù cải tạo trong bao lâu?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. (tiếng thở dài) Trời ơi! Thưa quý vị, để kết thúc chương trình, tôi nói thiệt, danh vọng, hay chết chóc gì cũng do tác phẩm nầy cả, cuộc đời tôi, nó dính liền với tác phẩm nầy. Cho nên lúc vô tù Cọng sản, tôi thê thảm lắm, thưa quý vị, Tôi bị vô trong cái biệt giam đó, trong thùng cô-nết. Tôi ở đó 22 tháng, tôi gần đâm ra hấp hối rồi. Dạ, nó đánh tôi. Nó không thấy, nó chỉ nghe những người Sài Gòn, những Việt cọng nằm vùng hồi xưa, những ăng-tên, những người cùng bị tù như mình, cùng cải tạo như mình nói với nó, chứ nó đâu có thấy gì. Nó đem tôi đi nhốt, bây giờ còn đầu mùa, cũng còn gay cấn lắm, tôi cũng chống đối lại nó, tôi khi dễ nó, không nói chuyện với nó, nó đánh, nó bề hội đồng tôi, cho tôi làm cái tác phẩm phản động, nầy kia thế nọ. Nó nói: “Tất cả những tướng lãnh, những sĩ quan lớn của anh đó, xong giặc rồi thì hết. Còn anh , còn lưu lại cái tư tưởng, cái hình ảnh, cái tinh thần đó mới là quan trọng. Tôi phải “múc” anh, chứ nói chuyện về với anh à, khỏi nói chuyện với anh về chuyện về”.
Thề rồi, ảnh hành hạ tôi, đánh tôi ba ngày ba đêm, lần nầy ảnh bộp lỗ tai tôi bị điếc, thành ra giờ nầy tôi qua đây, tôi được hưởng tiền điếc, thưa quý vị, nó đã nhốt tôi 8 tháng rồi. Một bữa đó, chính trị viên, nói như thế nầy: “Không lẽ anh ngồi trong đó hoài, bây giờ tôi đưa một cái ý nầy cho anh, anh nói một câu nầy, rồi tôi nghiên cứu cho anh ra ngoài lao động, chẳng lẽ anh ngồi trong nầy cho rục xương sao, anh chỉ nói như thế nầy, cái tượng gì thương tiếc của anh đó, anh chỉ là cái người phụ thôi, còn người chánh thức làm thì ra nước ngoài rồi, anh cứ nói vậy đi rồi tôi nghiên cứu cho anh”.
Tôi nói: “Dạ thưa, không được, cán bộ. Cái nầy tôi làm tôi chịu, không có ai mà làm. Không, không được. Cái nầy, tàu chìm thì tôi chìm theo, máy bay rớt tôi rớt theo, tượng chết thì tôi chết theo. Ô! Không được! Không được!”.
-Anh ngoan cố à! Anh cãi tôi phải không? Nó hét lên.
Nó nhảy tới, nó tạt, nó đá, nó vỗ trống tôi. Thưa quý vi, nó vỗ, bụp...bụp...Nó vỗ tôi hai cái, dĩ nhiên là điếc liền, bể liền, máu ra... Nó nhốt tôi 22 tháng, có lần nó đem ra xử bắn nữa. Ðêm đó, gần hai giờ sáng, chuông nhà thờ vừa đổ xong rồi. Cái cửa cô-nết mở vào lúc 4 giờ khuya, mở khác giờ, tôi biết giờ tử tội đã đến. Nó đem tôi ra, đi dài dài. Tôi đi không nỗi, nó kè tôi đi cà lếch, cà lếch... Ði ra chỗ đó, nó bịt mắt tôi lại. Bỗng nhiên, có chiếc xe jeep nào đó, tôi nghe văng vẳng. Tôi ngồi xuống, tôi nghe tiếng nói từ chiếc xe jeep: “Ðồng chí nào đó? Bước lại đây!”. Khoảng 10 phút sau, tôi nghe tiếng máy xe ù ù chạy trở ra, rồi nó chạy trở lại, nó nói gì đó với nhau. Thưa quý vị, lúc bây giờ nếu mà xử bắn tôi, bên tay mặt tôi là con đường sân vận động, bên tay trái là khu gia binh, tôi có linh tính, chân tôi nó rẽ sang bên trái, rồi nó dẫn tôi vô trong một cái gì đó, đóng lại ầm...ầm. Lúc bấy giờ, thần kinh tôi căng thẳng, rồi ngủ, sáng dậy tôi thấy tôi nằm trong cầu tiêu.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh nghĩ như thế nào về cuộc chiến Việt Nam. Anh là người sống trong cuộc chiến, chắc chắn là sự xúc động của anh kinh khủng lắm phải không ạ?
ÐKG NGUYỄN THANH THU: Nói đến tác phẩm nầy, thưa quý vị, anh Trường ảnh hỏi nhiều quá, sâu sắc đối với tôi. Thưa quý vị, nếu mà những người đồng lứa tuổi với tôi, năm nay tôi 68 tuổi, tất cả những sĩ quan, những H.O qua đây rồi, tôi nói, không ai mà không xúc động trước một hình ảnh mà người chiến binh đã ngã ngoài chiến trường, có nhiều bản nhạc hay đó, Trần Thiện Thanh cũng kêu la um sùm đó, rồi nhạc nầy, nhạc kia, đủ thứ hết, nhớ người lính của mình. Nhất là, không phải nói đến riêng những binh chũng nào như Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến...mà nói chung đến người lính của mình, chiến sĩ mình, lòng gan dạ của họ, chỗ nào nguy hiểm là họ tới để giải quyết chiến trường, cảnh bị bao vây, rồi chết chóc... thê lương lắm, đại khái như vậy. Hình ảnh Thương Tiếc đó, nói ngay, khi tôi vừa lớn lên thì gặp chiến tranh, cho nên tác phẩm nào cũng có nguyên nhân của nó. Chiến trường, nơi đó là một đề tài thật xúc động. Cho nên, là một nghệ sĩ, tài cán không được bao nhiêu, chỉ thấy được sự thật của thời đại lúc bấy giờ, cái mốc đó, cuộc chiến đó. Tôi cố gắng ghi laị sự đau đớn của thời đại đó.
LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa quý vị, buổi nói chuyện với Ðiêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, quý vị vừa biết được nguồn gốc của bức tượng TIẾC THƯƠNG, đặt tại NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA, nơi mà 250.000 chiến sĩ đã nằm xuống, để bảo vệ cho đất nước VIỆT NAM được TỰ DO.
Thưa quý vị, vào tháng Tư, không ai khỏi bùi ngùi với xót xa đó. Nhân cơ hội nầy, Lê Xuân Trường xin mời quý vị hãy xem video Asia số 36, để biết được công lao lớn lao của người LÍNH đã hy sinh, quên thân mình, bảo vệ cho đất nước VIỆT NAM, một lần nữa Lê Xuân Trường và Ðiêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu xin trân trọng kính chào quý khán thính giả đã theo dõi chương trình : “Ba Mươi Phút Với Nghệ Sĩ”.
Kính chào quý vị.
Thơ:
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...fzs&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=2nyyxyzzfzs&thumb=4)
Link hình:
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...sn7&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=eyl2ybndsn7&thumb=4)
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...3jq&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=9iyyydxm3jq&thumb=4)
ngay09
07-24-2007, 11:08 PM
Kính tặng các Chiến Sĩ Sư đoàn Dù Việt Nam Cộng Hòa
Chí Trai Thời Loạn
Tôi là trai sinh vào thời ly loạn
Rồi trưởng thành trong khói lửa loạn ly
Xếp bút nghiên, tôi giã biệt kinh kỳ
Vào một sáng mưa phùn bay phố nhỏ
Tôi hãnh diện là Thiên thần Mũ Ðỏ
Chí kiêu hùng nung đúc bởi "lồng cu"
Những tiếng "GO" cho đến những lần "GO"
Là liều thuốc can trường cho tôi đó
Tôi hãnh diện được đi mây về gió
Gói cuộc đời trong lớp áo ngụy trang
Ðã bao lần lơ lửng giữa không gian
Trời tươi đẹp khi hoa Dù rộn nở
Tôi còn nhớ, có lần em gái nhỏ
Hỏi tôi rằng: Mũ Ðỏ nghĩa là sao?
Tôi mỉm cười, đưa tay chỉ trời cao
Là chiến thắng, tô đậm màu máu giặc
Tôi ao ước được trở về đất Bắc
Cánh hoa Dù dùng gói xác cộng quân
Ðường quê hương nở rợp bóng thiên thần
Và Mũ Ðỏ oai hùng đang tiến bưóc.
Khuyết Danh (Sư Ðoàn Dù VNCH)
Hồi Ký:
Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất
Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng
Tôi vẫn nhớ rõ như mới nhìn thấy hôm qua những khuôn mặt, giọng nói tác phong của những anh em Dù đã cùng tôi vào sinh ra tử. Thiếu Tá Thanh Tiểu đoàn 8 mà đồng đội của người Tiểu Ðoàn Trưởng nầy thường gọi là Thành Râu. Anh em chúng tôi có Thiếu Tá Châu Lùn Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1, Thiếu Tá Hạnh, Hào Hoa Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2, Thiếu Tá Trang Trĩ Tiểu Ðoàn Tru +ởng Tiểu Ðoàn 3, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5 nổi nóng mặt đỏ gay, Thiếu Tá Lô Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 7, biệt danh là Lô Lọ Rượu. Anh em chúng tôi còn có Cậu Út Biên Hòa hay cậu "Bảy Tình" Mu+ời Lựu Ðạn tức Trung Tá Thành, Tiểu Ðoàn 6, Trung Tá Trần Ðăng Khôi Lữ Ðoàn 2 tài đức song toàn.
Thiếu Tá Ðường TÐ9, thích làm thơ tình lãng mạn, gọi là Ðường Thi Sĩ, anh em chúng tôi có Thiếu tá Hồng Thu, Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 16 gọi Cô Thu. Chúng tôi có 2 Ngọc, Ngọc Long Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 và Ngọc Nga, Lữ Ðoàn Trưo+?ng Lữ Ðoàn 4, Làm sao anh em Dù chúng tôi quên được, chúng tôi có 2 người bạn anh hùng, mỗi người chỉ có một mắt. Trung Tá "Bùi Ðăng" trong thẻ quân nhân không phải họ "Bùi" cũng chẳng có tên "Ðăng", tên anh là Bằng, Anh chỉ có một mắt. Nhưng những chiến sĩ của anh gọi anh một cách âu yếm là Bùi Ðăng. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lu+~ Ðoàn Phó Lữ Ðoàn 2 cũng chỉ có một mắt từ ngày còn là Ðại Ðội Trưởng Tiểu Ðoàn 5, anh em Dù gọi là Hiệp sĩ Mù, tội nghiệp Sơn đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại mặt trận Phan Rang. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù củ a chúng tôi, Hiệp sĩ mù của Thiên thần mũ đỏ không xử dụng cùng một loại vũ khí như Hiệp sĩ mù của phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng oai phong người Hiệp sĩ của Quê Hu +ơng ta chẳng thua sút sự hào hiệp của người trong truyện. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù, chúng tôi có Bố Già. Làm sao quên Bố Già Lương Ruột Ngựa. Ðỉnh Tây Lai, Bố già Ðại Tá Lê Văn Phát, người tử thủ Khánh Dương, ngưo+`i lính già có mặt hầu hết những trận lớn của Quê Mẹ? Bố Già Lữ Ðoàn 3? Ðúng, chúng tôi có Bố Già đó.
Tháng 6/1972, sau trận Bình Long, tôi được trả về Sư Ðoàn Dù, ít lau sau SÐ Dù được đưa ra Ðà Nẵng để tăng phái cho Quân Ðoàn I. Lúc đó tôi là Lữ Ðoàn Trưởng LÐ1 Nhảy Dù. Cùng với LÐ1 ra vùng I có LÐ2 và LÐ3. Thời gian nầy, Trung Tướng Dư Quốc Ðống là Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.
Sự phân phối các đơn vị Dù tại Quân Ðoàn I lúc ấy nhưsau: 2 Lữ Ðoàn ở phía Nam Ðèo Hải Vân. Tháng 9/1972, tôi được bổ nhiệm làm phụ tá hành quân Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Vào tháng 8 năm đó, Trung Tướng Dư Quốc Ðống bị bệnh, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư lệnh phó Sư Ðoàn được chỉ định đảm nhận Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, còn Ðại Tá Bảo, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn thì vừa tu +? nạn phi cơ, do đó tôi được đảm nhận trách vụ xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù một cách không chính thức. Cuối tháng 8, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu hồi tôi vào Dinh Ðộc Lập để làm lễ tăng chức Chuẩn Tướng cho tôi, và sau đó tôi được bổ nhiệm Tư Lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù đóng tại căn cứ Hiệp Khánh, cây số 17 Bắc Huế. Ðến tháng 11/1972, tôi chính thức nhận chức Tu+ Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù, thay thế Trung Tướng Ðống từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Khoảng thời gian 72 đến 75 ải địa đầu của Tổ Quốc của ta không phải là vùng đất bình lặng, Quảng Trị, Thạch Hãn, Chu Lai, Cố Ðô Huế. Nhu+~ng danh xưng đủ nói lên những trời giao động. Những người lính chiến được đồng bào gọi một cách âu yếm là "Thiên Thần Mũ Ðỏ". Trong suốt thời gian máu lửa đó đã có mặt khắp cùng trên những vùng đất ải địa đầu, cùng anh em quân nhân thuộc các quân binh chủng khác, mang lại cho đồng bào, tuy không phải sự bình yên tuyệt đối cũng là một tình hình khả quan.
Năm 1975, vào những ngày tháng Lịch Sử, chúng tôi đứng vu +~ng vùng I. Ðập những nhịp tim tin tưởng, anh em chúng tôi, một mặt nhìn bao quát tình hình chiến trường khắp nước, một mặt theo dõi mọi tiến thoái của các đơn vị đối phương trong vùng, tay cầm súng sẵn, chờ địch quân . Thói quen tiến vào chỗ chết, thói quen chấp nhận trận địa mười thua một ăn mà vẫn chiến đấu oai hùng, làm cho anh em Dù, mặc dù tin tức giao động đến tu +` bốn phía, vẫn tiếp tục sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục cố gắng.
Lệnh của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Sư Ðoàn Dù về SàiGòn hiện ra với tôi, bởi đó như một chấn động. Tôi chờ đợi mọi thứ trong tư thế sẵn sàng. Ðo+.i đối phương ào ạt vượt sông Thạch Hãn, đợi chiến xa địch đến đây, miền Trung kiêu hãnh từ những vùng ru+`ng rậm Nam Lào. Nhưng tôi không chờ đợi được điều đó. Lệnh di chuyển SÐ Dù về SàiGòn, lệnh không phải chỉ nghe một phía mà từ mọi hướng. Ngày 10.03.1975, Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuộc. 11.03.1975 Ban Mê Thuộc thất thủ. Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng vào SàiGòn nhận chỉ thị. Lệnh khủng khiếp, lệnh làm choáng váng, làm tan nát, đó là "Bỏ vùng I". Dường như muốn cho lệnh tổng quát đó được thi hành chính xác, Tổng Thống Thiệu đòi Trung Tướng Trưởng phải tức khắc cho rút Sư Ðoàn Dù về SàiGòn ngay. Cho chắc ăn, SàiGòn qua lệnh rút Sư Ðoàn Dù về, muốn trói tay Trung Tu +ớng Tư Lệnh Quân Ðoàn I. "Trói tay" là một hình ảnh dễ hiểu nhưng có lẽ không đủ nghĩa. SàiGòn đã lấy mất thanh gươm và chặt hết một cánh tay, cánh tay cầm gu +ơm của Tướng Trưởng khi đối phương bắt đầu tiến to+'i.
Chỉ sau vài chục giờ sau khi lệnh Tướng Trưởng trả Dù về SàiGòn, công điện tối mật của Tổng Tham Mưu do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký gởi cho Tư Lệnh Su+ Ðoàn Dù hạ lệnh toàn bộ Sư Ðoàn Dù rời khỏi miền Trung không chậm trễ. Lúc đó tin Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quân Ðoàn I cũng bắt đầu loan ra.
Ngày 17/03/75, sau khi đã thực hiện đầy đủ những giải pháp kỹ thuật cho các anh em Dù rời miền Trung, chuyển vận, tiếp liệu, an toàn khi ra đi v.v...tôi lên gặp Trung Tướng Trưởng để chào từ giã. Tôi nói với Trung Tưo+'ng Trưởng về việc Thủy Quân Lục Chiến cũng sẽ ra đi. Tôi cũng nói lên những lời hàm ý chia sẻ ưu tư của Trung Tướng về sự "Trói tay", sự tước bỏ mọi hỗ trợ trưo +'c một trận đánh lớn. Khuôn mặt Tướng Ngô Quang Trưo +?ng, vẫn sẵn ưu tư, càng hiện ra ảm đạm. Ông chỉ cầm tay tôi nói:"Cảm ơn anh và các Anh em Nhảy Dù đã giúp tôirất nhiều trong những năm qua".
Anh em quân nhân Nhảy Dù nghĩ rằng mình được di chuyển toàn bộ về SàiGòn. Các Sĩ quan chỉ huy từ Ðại Ðội cho đến Lữ Ðoàn được loan báo là họ được di chuyển vềthủ Ðô VNCH. Tướng Trưởng được lệnh "trả Sư Ðoàn Dùvề SàiGòn". Lệnh tôi nhận được cũng rất rõ rệt: Ðu+a Sư Ðoàn Dù về SàiGòn.
Có thể những sử học trong tương lai cũng tóm tắt sự di chuyển của anh em chúng tôi bằng những dòng chữ "Tướng Thiệu, để chặt tay Tướng Trưởng, để gây cho Dân, Quân miền Trung sự kinh hồn tột độ, mở đầu cho tan rã ồ ạt, hạ lệnh rút Sư Ðoàn Dù ra khỏi tuyến đầu".
Sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế. Lệnh rút Su+ Ðoàn Dù về SàiGòn chỉ là một lệnh bề mặt mà chiềusâu là phân tán Sư Ðoàn Dù. Ông Thiệu áp dụng kế hoạch"Bẻ bó đũa" làm tan tành một đoàn quân bách chiến, mộtBinh chủng oai hùng, xô đẩy những Thiên Thần vào hỏa ngục. 12 Tiểu Ðoàn Trưởng trên 18 linh hồn của đoan quân Mũđỏ hoặc gục ngã ở chiến trường sắp đặt, hoặc rơi vào tay địch, có cả một Lữ Ðoàn tan thành mây khói, có cả một Lữ Ðoàn đánh đoạn hậu bảo vệ cho đồng bào di tản và tới phiên mình quân trải trên một diện tích rộng lớn, chỉ xuống tay được mấy trăm con.
Lệnh tôi nhận được là chia Sư Ðoàn Dù ra làm hai nhánh, một đi tàu thủy và một do không vận. Lữ Ðoàn 1 và 2 di chuyển bằng phi cơ của Không Lực VNCH. Lữ Ðoàn 3 di chuyển bằng tàu HQ-404 của Hải Quân VN. Lữ Ðoàn 1 và 2 đến điểm hẹn như ấn định, nhưng Lữ Ðoàn 3 không đưo+.c đưa đến nơi. Khi HQ-404 đến gần Nha Trang thì Hạm Tru+ởng nhận được lệnh đổ anh em xuống Nha Trang. Tôi chu+a kịp ngạc nhiên, nhưng ý tưởng thắc mắc vì sao Tổng Thống Thiệu nói đưa toàn bộ Sư Ðoàn Dù về SàiGòn để rồi phân tán một phần đi nơi khác. Dù vậy, không bao giờ tôi quên được khuôn mặt, mắt liếc xéo, nụ cưo +`i khoái trá, giọng nói chứa đựng thỏa mãn, toàn bộ khuôn mặt toát ra một sự khoan khoái kỳ lạ. Cựu Tổng Thống nhìn tôi với tia mắt kỳ lạ đó với nụ cười ở cuối môi, ông nói: "Theo anh liệu Trung Tướng Trưởng có giữ nổi Quân Ðoàn I khi tôi rút Sư Ðoàn Dù về đây không?".
Mặc dù lệnh lạc lung tung, bảo về SàiGòn lại đổ xuống Nha Trang, mặc dù bảo về dưỡng quân lại được ném ra mặt trận, là một quân nhân kỷ luật, ý thức được rằng sức mạnh đến từ kỷ luật sắt thép, anh em Lữ Ðoàn 3 xuống Cầu Ðá Nha Trang là lên đường đi chiến đấu ngay. Ðại Tá Lê Phát, người nắm Lữ Ðoàn 3 cũng là người có biệt hiệu "Bố Già" đặt Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn 3 là nút chặn địch ở Khánh Dương giúp cho các Ðơn vị của Quân Ðoàn II rút lui an toàn. Biết rõ sự oai hùngcủa các Thiên Thần Mũ Ðỏ của QLVNCH, Văn Tiến Dũng tung 2 Sư Ðoàn với quân số 6 lần, là những SÐ 320 và SÐ 10 đánh bọc ngang hông. Lữ Ðoàn 3 Dù bình tĩnh và oai hùng chiến đấu, quất cho quân địch tổn thất nặng nề. Lu+~ Ðoàn 3 còn ở Khánh Dương, địch không thể đi lên một bước. Ngày 28/03, vì quân số đối phương đông gấp 10 lần, nên không thể ngăn chặn vĩnh viễn, vì lệnh SàiGòn hay vì một lý do nào khác, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Ðại Tá Phát rút Lữ Ðoàn 3 từ Nha Trang vào Phan Rang, sau đó lệnh lại được đưa xuống là bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn và các thành phần yểm trợ thì rút về Phan Rang, còn 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 thì rút lên núi trấn giữ ở đó. Tại sao lại đưa 3 Tiểu Ðoàn Dù lên núi? Nghe tin này tôi vội vã bay ra Phan Rang.
Tư Lệnh Nhảy Dù trên nguyên tắc và bởi định nghĩa là người chỉ huy binh chủng Nhảy Dù. Nếu không được tham du+. vào việc hoạch thảo chiến lược, thì ít nhất trách nhiệm chiến thuật phải được trọn vẹn. Tôi không đưo+.c Tổng Tham Mưu hay Phủ Tổng Thống tham khảo một lần nào về chiến lược lui quân, kể từ ngày binh chủng Dù được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy, chiến thuật binh chủng Dù, quyền xử dụng anh em quân nhân Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của Tư Lệnh Dù. Anh em binh chủng tôi đặt chặt và giao cho người nầy một mảnh, người kia một miếng. Khi nhìn thấy chiến hữu của tôi bị vất vả cùng cực, tôi chạy ngược chạy xuôi đi can thiệp. Trong những giờ chạy đôn chạy đáo, ý tưởng ghê gớm lóe lên trong tôi, "Phải chăng một ác thần đang làm tê liệt hàng vạn tinh binh trước khi mở ra cuộc hỏa thiêu thành La Mấ".
Tôi bay ra Phan Rang gặp ngay Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, đang chỉ huy Bộ tư Lệnh tiền phương tại đây. Nơi đó tôi cũng gặp Tưo+'ng Sang Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân. Tôi yêu cầu cho tru+.c thăng lên núi bốc 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 về Phan Rang. Tưo+'ng Nghi chấp thuận, chỉ thị Tướng Sang cho Không Quân giúp. Anh em trực thăng đã rất nhiệt tâm và can đảm trong việc bốc hơn 1000 người bỗng nhiên bị ném lên một ngọn núi chơ vơ mà không một lý do chiến lược hay chiến thuật nào giải thích được cả. Lữ Ðoàn 3 trong tu + thế vững vàng, sẵn sàng chiến đấu nghiêm chỉnh trong vị trí đứng đắn. 30.03.1975, tôi tạm yên tâm, bay về SàiGòn.
Vừa đặt chân đến Thủ Ðô, tôi được lệnh Tổng Tham Mu+u cho Lữ Ðoàn 2 ra Phan Rang thay thế Lữ Ðoàn 3, Lữ Ðoàn 3 về SàiGòn tái chỉnh trang Ðơn vị. Tôi muốn hét to lên: Tăng cường chớ sao lại thay thế? Mặt trận đang nặng, rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa dựng xong, nước sẽ ùa tới mang lụt lội tàn phá tan tành! SÐ 310 và 320 của đối phương đang di chuyển nhanh về vùng 3 chính vào lúc đầu tháng tu nầy. Sư Ðoàn 10 của địch càn quét Nha Trang. Mặt Bắc là Sư Ðoàn 10, Nam là các SÐ 310 và 320, tăng chúng ào ào, tù nhân thả ra do bàn tay bí mật từ các khám đường, một số quân nhân của một binh chủng bị mất cấp chỉ huy sinh rối loạn, chính trong biển hỗn loạn và tan vỡ đó, người ta ném Lữ Ðoàn 2 Dù, những đứa con thân yêu ruột thịt của tôi, những bằng hữu vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật của tôi trọn lượng ném vào khoảng trống, viên ngọc quý ném vào đại du+ơng giông bão. 3 Tiểu Ðoàn 3, 7, và 11 của Lữ Ðoàn 2 chiến đấu như những con cọp bị vây hãm, dường như sợ cái đại dương hỗn loạn đó chưa đủ làm thành một hỏa ngục rực lửa, người ta không ai còn nhớ đến việc tiếp tế cho những Thiên thần Mũ Ðỏ từ trời cao đáp thẳng xuống địa ngục A Tỳ. Anh em Lữ Ðoàn 2 mặc dù tình hình rối loạn, mặc dù tin tức giao động từ bốn phía, mất Quân Ðoàn I, Quy Nhơn thất thủ, Nha Trang thất thủ, anh em vẫn chiến đấu, cho đến viên đạn cuối cùng . Tiểu Ðoàn 6 sau những trận oai hùng được lệnh Tổng Tham Mưu rút khỏi Phan Rang, Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân của Ðại Tá Biết thay thế. Nhưng Tiểu Ðoàn 3 chỉ 100 anh em đu+ợc trực thăng bốc về Phan Thiết, Tiểu Ðoàn 11 mất liên lạc toàn diện. Tôi mất Thiếu Tá Thành, con chim đầu đàn của Tiểu Ðoàn 11 và Ðại Tá Nguyễn Thu Lương, mà anh em chúng tôi thường gọi một cách thân thương là "Lương Ruột Ngựa", con chim đầu đàn của Lữ Ðoàn 2 cũng tại vùng đất lửa này. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng lọt vào tay địch ở Phan Rang.
Chiếc đũa Lữ Ðoàn 2 bị bẻ gãy, chiếc đũa Lữ Ðoàn 3 bị ném tại Khánh Dương, bốc về Phan Rang, lửa hỏa lực nung nấu mệt nhừ. Ngày 8.4.1975, viên Trung Úy Không Quân tên Trung ném bom Dinh Ðộc Lập, về mặt dân sự, một số chính khách đối lập bị bắt giữ. Nhưng phản ứng của Tổng Thống Thiệu là đưa "chiếc đũa Lữ Ðoàn 1" chiếc đũa còn nguyên vẹn của bó đũa bị tách rời từng chiếc, ra tăng phái Quân Ðoàn III, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ý tưởng rõ rệt trong tôi, và cả bây giờ là Tổng Thống Thiệu sợ đảo chánh nên phân tán các đơn vị Nhảy Dù ra các nơi. Tôi là Tư Lệnh Nhảy Dù nhưng tay chân hoàn toàn bị chặt hết.
Ý tưởng làm sống dậy hình ảnh, một ngày tại vùng I, o+? Cố Ðô Huế, tôi nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: "Trung Tướng cứ để anh em tôi về SàiGòn làm một chuyến, thử xem saỏ" Trung Tướng lắng nghe lặng lẽ. Tôi hiểu Tướng Trưởng cũng như anh em chúng tôi là những ngu+ời lính đơn thuần, chỉ lấy việc bảo vệ Quê Hương làm quan trọng, không màng gì tới danh vọng và chính trị, chúng tôi không có thói quen chọn lựa những quyết định không liên quan trực tiếp đến chiến trường. Cựu Tổng Thống Thiệu có nghe phong phanh về những toan tính đó không? Trong mọi trường hợp, lúc đó tôi nghĩ là ông phân tán anh em chúng tôi vì nghi ngờ. Bây giờ tôi còn muốn nghĩ như thế. Trừ khi ông muốn bẻ tan bó đũa vì lý do khác - Lý do khủng khiếp - Tôi không muốn nghĩ tới lý do đó. Tôi muốn nghĩ đến một sự nghi ngờ. Như một sự xua đuổi ý nghĩ ghê gớm kia.
Lữ Ðoàn I ra Quân Ðoàn III trấn giữ Xuân Lộc, tăng phái cho Sư Ðoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn là chận đứng bước tiến của VC vào SàiGòn. Anh em Dù của Lữ Ðoàn 1 đã oai hùng làm tròn nhiệm vụ, địch quân không tiến thêm được một tấc đất. Ðoàn quân viễn chinh của Võ Nguyên Giáp, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng, tiến như thác đổ, bị khựng lại ở ngay cửa ngõ của SàiGòn. Từng đo+.t xung phong có chiến xa và pháo binh yểm trợ, tất cả đều bị đánh bật, tiến lên là phải lùi lại, tấc đất đánh được buổi sáng, buổi chiều anh em Dù ngạo nghễ giành lại. Sau nhiều ngày giao tranh, Sư Ðoàn 18 được lệnh rút về Biên Hòa, Lữ Ðoàn 1 chiến đấu giữ vững trận tuyến, từ đầu tới cuối. Sau chót đến đêm 28 rạng 29/04, Bộ Ðội CS tấn công Lữ Ðoàn 1 Dù ở Lăng Can, Bà Rịa đánh đến giờ chót, Lữ Ðoàn 1 Dù mới rút ra Vũng Tàu. Tôi được lệnh trực tiếp do Trung Tá Nguyễn Văn Ðỉnh, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 Dù, mà anh em chúng tôi âu yếm gọi là Ðỉnh Tây Lai đứng ở dưới bờ bảo vệ cho những đứa con lên tàu. Người chỉ huy Nhảy Dù có thói quen ở với hiểm nguy cho tới phút cuối cùng, dành sự an toàn cho từng đứa con yêu quý. "Ðỉnh Tây Lai" là một trong những Thiên Thần lẫm liệt đó.
Về phần Lữ Ðoàn 4, từ Ðà Nẵng được rút về SàiGòn giữa tháng 02/74, biệt phái Biệt Khu Thủ Ðô. Chính Lữ Ðoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC o+? cửa ngõ Thủ Ðô, ngang Xa Lộ Biên Hòa, trong những giờ khắc SàiGòn bắt đầu rơi vào rối loạn. Lữ Ðoàn 3 của Trung Tá Trần Ðăng Khôi (Lữ Ðoàn Phó mới thay thế Ðại Tá Phát trong chức vụ Lữ Ðoàn Tưởng Lữ Ðoàn 3 Dù, Trung Tá Bùi Quyền Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5, thay thế Khôi trong chức vụ Lữ Ðoàn Phó) từ Phan Rang rút về đóng ở Hoàng Hoa Thám, đánh những trận chót ngay trong lòng Thủ Ðô, mặc dù trăm nghìn giao động cho tới phút chót. Ðến những giây phút cuối cùng, anh em Dù vẫn giữ vững từng tấc đất được giao phó, hoàn thành nhiệm vụ thiêu thân nút chặn để đồng bào ra đi, để được ngã gục trên thân thể của Quê Mẹ nghìn đời.
Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng
Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù QLVNCH
ngay09
07-24-2007, 11:09 PM
Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Lý Tất Thắng
Từ nghìn xưa cho đến ngày nay Sử Việt đã ghi lại công lao cũng như sự hy sinh trong lời nguyện Cứu Quốc Tồn Chủng của Các Anh Hùng Liệt Nữ Việt . Mời quý vị cùng chúng tôi chiêm ngưỡng một bài kể rất ngắn gọn về 5 trong số rất nhiều Anh Hùng Việt của cuối thế kỷ 20. Do Ông Phạm Phong Dinh viết.
Toàn dân Việt trong nước cũng như hải ngoại xin Kính Cẩn Chào Năm trong muôn nghìn vạn Anh Hùng Viêt đã vị quốc vong thân . Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần . Thành Kính Cầu Mong Hồn Thiêng Sông Núi, Hương Linh Oai Dũng của Anh Hùng Liệt Nữ Việt Phù Hộ Cho Toàn Dân Việt thành công trong công cuộc Cách Mạng Cứu Quốc Tồn Chủng. Lấy lại đất nước Việt cho người Việt, lấy lại quyền làm người cho người Việt. Thành công kiến thiết an dân, phục hưng phục hoạt đất nước Việt trở thành cường thịnh và tích cực góp công góp sức với thế giới xây dựng nền Nhân Chủ cho toàn cầu .
Toàn dân Việt Thành Tâm Kính Cẩn Chào Năm Anh Hùng Viêt đã vị quốc vong thân .
***************************************
Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Tướng Phạm Văn Phú.
Tướng Lê Văn Hưng.
Tướng Trần Văn Hai.
Tướng Lê Nguyên Vỹ.
****************************************
Từ nghìn xưa cho đến ngày nay Sử Việt đã ghi lại công lao cũng như sự hy sinh trong lời nguyện Cứu Quốc Tồn Chủng của Các Anh Hùng Liệt Nữ Việt . Mời quý vị cùng chúng tôi chiêm ngưỡng một bài kể rất ngắn gọn về 5 trong số rất nhiều Anh Hùng Việt của cuối thế kỷ 20. ( Sưu tầm : Lý Tất Thắng )
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Những Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Do Ông Phạm Phong Dinh viết)
Đất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại.
Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.
Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ. Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Sài Gòn
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
“Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”
Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.
Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:
“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”.
Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.
Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại. sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”
Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.
Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng.
Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình.
Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.
Phạm Phong Dinh
ngay09
07-24-2007, 11:14 PM
Ngô Quang Trưởng (13 tháng 12 năm 1929 – 22 tháng 1 năm 2007) là một trung tướng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ trong những năm 1954–1975. Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân Giải phóng miền Nam, tái chiếm Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Con đường binh nghiệp
Ngô Quang Trưởng sinh năm 1932, tốt nghiệp Khóa 4 Liên trường Võ khoa Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, ra trường được bổ nhiệm đại đội trưởng đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.
Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận.
Năm 1963, ông thăng cấp đại úy.
Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù (TĐ5ND). Cùng năm 1964, TĐ5ND do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMNVN), tịch thu 160 súng đủ loại.
Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Công Trường 7 MTGPMNVN. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù. Đến cuối năm 1965, bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù.
Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1BB), dưới quyền chỉ huy của tư lệnh Quân đoàn I, thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm.
Năm 1967, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ-Đồng Xuyên-Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông thăng cấp chuẩn tướng.
Năm 1968, các đơn vị thuộc SĐ1BB do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù (gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù) do Trung tá Lê Quang Lưởng chỉ huy đã phòng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày (30 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968). Các đơn vị này đẩy bật các đơn vị xung kích của Quân Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 (các Tiểu Đoàn K4A, K4B, TĐ 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu Đoàn K41, K6, TĐ 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15,16,17,18, tăng cường một đại đội súng phòng không 37mm, hai đại đội du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế), và hai Tiểu Đoàn 416,418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan (Đoàn 9). Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp thiếu tướng và được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV.
Năm 1970 ông được thăng cấp trung tướng.
Năm 1972, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Trị-Thiên. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Quân khu I đã bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lãm. Quân khu I được tăng cường toàn bộ lượng tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được sự yểm trợ tầm xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, ông được lệnh tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di tản toàn bộ Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Do thiếu chuẩn bị và sụp đổ tinh thần, cuộc di tản hoàn toàn thất bại, tổn thất toàn bộ lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I trong thời gian rất ngắn, không vì giao tranh nhưng vì hỗn loạn và đào ngũ. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và việc tan rã 4 sư đoàn quân chủ lực, trong đó có hai sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Sư đoàn 1 Bộ Binh và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, đưa đến sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng bất ngờ. Ông vào Sài Gòn và khai bệnh, dưỡng bệnh tại Sài Gòn cho đến khi Sài Gòn thất thủ. Ông di tản cùng gia đình qua Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang Virginia. Ông cũng là một trong số ít tướng lãnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được đánh giá là thanh liêm trong sạch "Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng".
Trung tướng Ngô Quang Trưởng từ trần vào lúc 3 giờ 20 sáng ngày 22 tháng 1 năm 2007 tại Virginia.
Các tác phẩm quân sự
Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.
"The Easter Offensive of 1972" (1983),
"Territorial Forces" (1984), và
"RVANF and US Operational Cooperational Coordination" (1984).
Nhận định về Ngô Quang Trưởng
Trong hồi ký của Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, tướng Schwarzkopf viết "....General Truong is the most brilliant tactical commander I'd ever known ...", tạm dịch "Trung Tướng Trưởng là người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết".
Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký "The Siege at Hue" viết: "General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army."; tạm dịch "Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật, và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là người cần mẫn, thanh liêm, và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam."
Link hình:
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...x4z&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=5xdjyycnx4z&thumb=4)
ngay09
07-24-2007, 11:16 PM
Anh Hùng Tiếng Để Nghìn Thu
tùy bút Ngọc Thủy
Kính tiễn biệt Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Anh hùng tiếng để nghìn thu
Sử xanh còn chữ "trượng phu" lưu truyền
(Cụ Phan Bội Châu)
Buổi sáng đầu tuần, sáng thứ hai của mùa đông Cali sũng ướt sương mù nên tiếng chim kêu của góc vườn nhà tôi hôm nay chợt lặng im, buồn tẻ. Chỉ có tiếng chuông reo điện thoại vang lên liên tục của nhiều anh chị em bằng hữu ở một số nơi gọi báo tin buồn: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vừa vĩnh viễn ra đi vào lúc canh khuya, gần rạng sáng thứ Hai ngày 22/1.2007.
Tôi bàng hoàng thương - tiếc,… dẫu biết ai cũng một lần phải từ giã chốn trăm năm cõi tạm. Và ông tuổi hạc cũng cao, đau yếu từ mấy năm nay, làm sao cưỡng lại được mệnh số với thời gian. Huống chi theo lời cổ nhân thì “Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”, mà ông là một trong hàng danh tướng lẫy lừng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã một thời tung hoành cung kiếm dọc ngang ngày trước. Nhưng hơn ba mươi năm qua, từ ngày quê hương đổ nát, ông đã sống hết cuộc đời còn lại trong thầm lặng cô đơn ở xứ người. Nghĩ tới việc ông đi mà hồn còn vương lại khói bụi sa trường năm xưa cùng đoạn trường gian lao của Tổ Quốc còn giăng giăng vây bủa, khiến tôi không nén được nghẹn ngào cảm xúc trước hung tin.
Trước mắt tôi như hiện ra dáng người cao gầy với khuôn mặt trầm tĩnh dường chất chứa nhiều suy tư của ông, nhưng nụ cười hiền của ông lại làm sáng đẹp hẳn khuôn mặt khi ông vui vẻ trong lúc truyện trò. Bởi ông vốn là người nghiêm trang, ít nói, lại luôn mang trong trái tim gánh nặng Nỗi Sơn Hà từ ngày rời xa Tổ quốc Việt Nam.
Làm sao ông có thể quên được những ngày tháng trải qua cùng các chiến hữu quân binh lính của ông với vận nước thăng trầm trong thời gian chiến đấu bảo vệ Tự Do Hạnh Phúc cho miền Nam Việt Nam, gắn bó với quân và dân mà ông rất thương mến, nhất là những ngày tháng cam go ở Huế và Đà Nẵng khi ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn I và tiếp đến là Tư Lệnh Quân Đoàn I. Là vị sĩ quan xuất thân từ khóa IV Cương Quyết, Trừ Bị Thủ Đức (1954). Mười năm sau vị Thiếu Tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Dù này đã góp mặt trong trận đánh thắng lớn ở Quảng Tín tiếp theo những trận điều quân chiến thắng lẫy lừng khác ở các mặt trận Đà Nẵng, Quế Sơn, Đông Hà, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) .v.v… trong những năm sau.
Từ lúc đảm nhận chức vụ Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn I (1966), ông đã có mặt cùng tất cả các quân binh sĩ trong khắp các trận đánh thư hùng oanh liệt ờ địa đầu giới tuyến là nơi chịu áp lực đánh phá nặng nề nhất của CSBV như trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân ở Huế, với sự đề cao cảnh giác trong những ngày hưu chiến, ông vẫn cùng với các quân binh sĩ túc trực ngày đêm trong tư thế sẵn sàng ứng chiến và đã chống trả mãnh liệt để đánh bật cuộc xâm lăng hung hãn này vào năm 1968. Rời khỏi Huế - Đà Nẵng để làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV một thời gian. Ba năm sau, tình hình mặt trận miền Trung lại sôi bỏng hơn lúc nào hết trong chiến dịch Nguyễn Huệ với kế hoạch xâm lăng đại quy mô của cộng quân đánh thẳng vào Trị - Thiên cuối tháng Ba năm 1972.
Tháng 5/ 1972, Tướng Ngô Quang Trưởng về lại Vùng I giữa thế quân đang hồi căng thẳng, Cộng quân vừa chiếm giữ Quảng Trị. Để tìm lại con đường yên lành cho dân, vị tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I đã nhanh chóng điều động các đạo quân tinh nhuệ, những Sư Đoàn Dù và Thủy Quân lục Chiến tạo thành chiến thắng to lớn vẻ vang, đã tái chiếm được Cổ Thành Quảng Trị vào ngày 16-9-1972 sau hơn năm tháng chiến đấu thật dũng mãnh. Để dành lại từng tấc đất thân yêu, biết bao hy sinh xương máu của những người chiến sĩ anh hùng và dân lành vô tội đã đổ xuống trong cuộc chiến xâm lăng tàn bạo này. Bao nhà tan cửa nát, niềm tự hào của người dân nơi đây là thành trì Quảng trị oai phong bề thế với bốn cửa Tiền Hậu Tả Hữu uy nghi, có đồn đinh Công Tráng kiên cố, có hào lũy đào sâu bao bọc chung quanh, nhưng không kém phần thơ mộng với hồ hoa sen hoa súng bốn mùa nở ngát hương thơm..
Những con đường Bờ Hồ nối liền các ngả tư Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Gia Long, Hồ Đắc Khanh rợp bóng mát cây già, êm êm tiếng guốc khua vang những buổi học trưa chiều cùng những buổi họp chợ vừa tan. Bổng chốc, đời sống người dân hiền nơi đây đây đã bị giặc Cộng gây nên cảnh khốn khổ tang thương. Thành hào xưa xây đắp từ bao đời nhà Nguyễn, mà không lâu trước đó (năm 1885) còn là nơi vua Hàm Nghi nương náu trước khi vào chiến khu, đã không còn gì ngoài cảnh tường rơi ngói đổ điêu tàn dưới đạn bom tàn phá của CS. Những ngày khói lửa vào mùa hè năm 1972 đau thương chưa kịp ráo khô giòng lệ đỏ, chưa kịp dựng xây lại những hoang tàn đổ nát do giặc thù gây ra thì miền Nam thân yêu của chúng ta đã bị cưỡng chiếm.
Cổ Thành Quảng Trị ngày đó còn lưu lại chút dâú tích bi hùng lịch sử nay đã bị san bằng. Tiếc hận thay! Có còn chăng là lửa khói còn quyện chặt trong lòng đau dân tộc cùng bao người mỗi khi nhớ đến nghĩ về mảnh đất Trị Thiên của mùa hè kinh hoàng 1972. Nhưng cùng lúc trong tâm trí mọi người, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn ngạo nghễ tung bay dưới bầu trời nắng ấm quê hương như dàn cờ chiến thắng hò reo trong nỗi vui mừng của muôn quân dân trong buổi sáng ngày các chiến sĩ QLVNCH cắm cao ngọn cờ Tổ Quốc trên bờ thành Đinh Công Tráng. Tung Bay!
Binh nghiệp lẫy lừng của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vang xa và gắn liền với những biến cố thăng trầm, trọng đại của đất nước. Tôi biết đến ông qua lời khen tặng được lưu truyền rằng ông là một trong bốn ông Tướng trong sạch, thanh liêm từ lúc tôi còn ngồi ghế trung học. Ông được sự kính trọng bởi không những là vị Tướng cầm quân tài ba lại còn nhân đức, luôn đặt tình yêu đất nước lên hàng đầu, thương lính thương dân hết mực. Là người nhận lãnh trách nhiệm cuộc lui binh của Quân Đoàn I xẩy ra vào giữa tháng 3-1975, gánh nặng lịch sử của vận hạn đất nước thăng trầm lại một lần nữa đặt trên vai ông. Nước Mất Nhà Tan, ông nghiêng vai đón nhận những lời phê phán, chê trách cũng có, cảm thông cũng nhiều. Ông không lên tiếng bởi lòng ông đã vỡ nát từ ngày buông tay theo cơ đồ sập đổ.
Lần đầu có dịp gặp ông vào tuần lễ độc lập Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn trong ngày Đại HộI Thủy Quân Lục Chiến năm 2003, tôi hỏi ông về quá khứ tháng ba năm 1975, ông nhìn tôi rồi trả lời với hai câu thật ngắn: “Đâu còn gì để nói và không có gì để nói nữa cô Ngọc Thủy à”. Sự im lặng qua đi một vài giây, ông nghĩ gì sau đó tôi không biết nhưng tôi thấy thông cảm câu trả lời của ông. Buồn và tiếc thay, có nói gì thì miền Nam thân yêu cũng đã không giữ được và bây giờ chúng ta còn gì để nói nếu không là những hành động tích cực và hữu hiệu cho sự đấu tranh sớm dành lại sự Tự Do - Dân Chủ cho dân tộc Việt Nam.
Tôi nghĩ đến những câu chuyện và một số người, nếu chưa có dịp nói lên được điều lợi ích cho dân tộc, cho thế hệ con em cần hiểu rõ ngọn nguồn những biến cố lịch sử một cách đúng đắn, thì thà im lặng hơn là nói ra những lời nói và sự việc khiến mọi người phải đau lòng, nhức nhối. Tôi cũng chợt nghĩ đến sự cô đơn và sự trống trải khủng khiếp của ông trong ngày cuối cùng rời bỏ Đà Nẵng, vụt chốc cả một quân đoàn biến mất, những người thân yêu nhất là vợ con cũng chẳng biết ở đâu lúc ấy. Ông biết làm gì với thế cuộc đã đổi xoay. Một mình giữa bãi biển Tiên Sa ngày ấy, ông lặng nhìn non cao biển rộng quê hương một lần cuối. tất cả những nỗi niềm ông xin trao gởi lại cho Nước Non, ngàn năm như vách đá dội lại tiếng đau vỡ âm thầm. Như sự khép kín của ông từ bao năm nay, vẫn im lặng âm thầm, từ khi nghiêng vai bước xuống cuộc đổi đời, xa Tổ Quốc!
Nhìn những lớp mây trắng trôi trong bầu trời xám lạnh của buổi sáng mùa đông hôm nay, tôi chợt nhớ đến buổi sáng se se lạnh trong lần đến thăm cô chú Ngô Quang Trưởng vào một ngày chớm thu, mới đó mà đã gần ba năm. Hôm đó tôi vui thích được dạo quanh khu vườn rộng phía sau nhà cô chú có những hàng thông xanh tỏa bóng mát cao che, có mấy luống hoa, vàng, đỏ, tím hồng xinh xinh đang nở thắm bên hiên nhà, Được Tr/T chụp cho mấy tấm hình thật đẹp bên hòn đá non bộ mà Tr/T đã bỏ nhiều công sức chăm sóc tỉa gọt và vun quén thêm mấy loại cây kiểng, tạo âm thanh tiếng nước chảy róc rách như tiếng gọi từ suối nguồn, mắt ngắm đá, hoa trên khối hình non bộ trước mặt mà lòng dào dạt như khí phách đại thần Cao Bá Quát thấp thoáng đâu đó chăng, bởi xưa và nay cũng dễ gặp nhau ở mối đồng chung tâm cảm:
“Núi cao nhất: Thái Sơn, Hành, Nhạc!
Sông Hoàng Hà, Giang, Hán đâu bì!
Sống quanh bên ba thước võng treo kia
Mà trùng điệp, nước đẹp non kỳ đều được thấy
Bao hào kiệt thánh hiền trong ấy
Cùng với ta, hết thảy bạn bè quen!”
Để trí não ông, một vị Tướng đã nhiều phen xuất trận lẫy lừng, đã từng xông pha trước ngàn tên muôn giáo cùng bao chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ miền Nam Tự Do thân yêu thuở nào, nay muốn được tịnh dưỡng nhàn du, thâm tâm an lạc qua những cơn vượt sóng ba đào của thế cuộc vần xoay:
“Lắng tinh thần, sạch lâng bao nghĩ ngợi
Im lìm mà như tới cõi thần du…”
(Cao Bá Quát)
Tiếc thay đời người trôi nhanh qua như giấc mộng phù vân. Thế là chúng ta đã mất đi người dũng tướng nhân từ thao lược của miền Nam thân yêu thật rồi. Trong nỗi xúc động bàng hoàng, tôi vội liên lạc với một vài người bạn để lo giúp việc mua vé máy bay gấp xem thế nào. Anh Nguyễn Phán (cựu Trung Tá TĐT/TĐ 8 TQLC) từ Houston cho biết sẽ có mặt ngay vào khoảng trưa mai tại DC để phụ lo tang lễ cùng quân cách với các Hội Đoàn Quân Nhân ở Hoa Thịnh Đốn cùng gia đình Tr/T Ngô Quang Trưởng vì ngày an táng ông được dự định vào thứ Năm giữa tuần. Tôi cũng thật tình muốn đến tiễn đưa linh cửu và chào ông lần cuối nên vội gọi cô bạn Ngọc Yến, thật may cô tiểu muội này sẵn sàng cho tôi mượn một free airline ticket của hãng máy bay Southwest, có thể đi ngay vào sáng sớm thứ Tư để kịp có mặt tham dự tang lễ. Vé đã có, nhưng chẳng ngờ công việc sắp xếp không xong nên cuối cùng phải gọi cho đại huynh Nguyễn Phán biết tin là tôi không thể đi kịp theo như dự tính. Hai anh em chỉ còn biết chia xẻ nỗi ngậm ngùi tiếc thương ông cùng nhau, bởi tôi không muốn gọi đến cô Kim Nhung (hiền thê của cố Tr/T Ngô Quang Trưởng và cũng là người con gái đầu lòng của cố nhà văn Thạch Lam) lúc này vì biết cô đang rất bận rộn với đại tang gia và bối rối với niềm đau mất mát quá lớn. Lời chia buồn xin được chia xẻ cùng cô sau vậy. Và tôi chỉ kịp có được một bài viết ngắn ngay lúc này để tỏ bày lòng thương tiếc của tôi đối với một Người mà tôi luôn luôn kính mến.
Đầu năm 2007, thời tiết không tốt. Cơn bão tuyết bao trùm gần hết nước Mỹ. Nhiều người thiệt mạng vì không chịu nỗi cái lạnh của mùa đông năm nay. Tuy con số người phải rời bỏ cõi đời này trong cái băng giá đột ngột của trời đất không là bao nhiêu nhưng đó vẫn là tấm màn đen bao phủ xuống một xứ sở văn minh và khoa học tiến bộ vượt bậc.
Cũng ngay trên nước Mỹ này, tin Trung Tướng Ngô Quang Trưởng từ trần trong mùa lạnh giá, nhiều người ngẩn ngơ, không tin mà phải tin vì… dù sao thì ông cũng đã già (1929-2007, năm nay ông 78 tuổi)! Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ngả bệnh cách đây ba năm, ung thư phổi. Chiều chúa nhật 21 tháng 1 năm 2007, vì sức khỏe yếu, người nhà đưa ông vào bệnh viện, được tiêm thuốc giảm đau, ông ngủ êm rồi yên nghỉ hẳn, lúc đó 3 giờ 20 phút sáng ngày thứ hai 22 tháng 1 năm 2007.
Nhìn tấm hình ông ngày nào, thấy ông rắn rỏi trẻ trung, dù hồi đó, tháng 4 năm 1975, ông đã gần năm mươi tuổi! Không thấy báo nào đưa hình mới nhất của ông. Đài truyền hình Việt ngữ STBN, đài BBC, báo chí khắp nơi có đăng, chiếu ảnh ông, nhưng cũng là ảnh cũ. Ôi, tấm ảnh ngày xưa… Xưa, cũng là thời đất nước mình biển dâu dồn dập, dân tộc đang oằn mình trước trận chiến cuối cùng: miền Nam Việt Nam mất vào tay quân xâm nhập miền Bắc…
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn I & Vùng I từ năm 1972 thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Ông luôn luôn làm tròn nhiệm vụ được quốc gia và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tin cậy giao phó: đánh bật được Cộng quân ra khỏi thành phố Huế trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, tránh cho dân lành thoát khỏi cảnh máu đổ thịt rơi trong những ngày đón xuân, sau khi hàng chục ngàn người dân đã bị CSBV tàn sát dã man, oan uổng. Chỉ huy thành công việc tái chiếm Cổ thành Quảng Trị, thu hồi toàn bộ những phần đất bị Cộng quân lấn chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh.
Đại Tướng Norman Shwarkopf của Mỹ, trong cuốn Hồi Ký viết vào năm 1992 đã ca tụng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một vị anh hùng. Đ/T Norman Shwarkopf nhớ lại trận đánh tại thung lũng Ia Drang ở Đức Cơ gần biên giới Miên - Việt tỉnh Pleiku. Ông như thấy rõ trước mặt, luôn luôn, một người chiến thắng không kiêu ngạo nhưng vô cùng uy nghi. Riêng tôi khi đọc bài viết “It Doesn’t Take a Hero” của Đ/T Norman Shwarkopf, dường như cũng thấy rõ trước mắt, hoài hoài, một vị Tướng hiền hòa giản dị nhưng vô cùng lẫm liệt. Một vị Tướng giỏi tài thao lược khi ra trận, bén nhậy như ánh sáng sắt thép của lưỡi gươm được tuốt ra khỏi vỏ, không dung tha bất cứ quân thù xâm lấn giết hại dân lành nào. Nhưng vẫn ắp đầy tình người nhân ái trong niềm đau khổ riêng khi xếp lại gươm đao.
Những ngày đầu tháng Tư năm 1975 là những ngày sôi bỏng nhất của cuộc chiến Quốc-Cộng, chính phủ Mỹ không còn nhiệt thành giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa nữa kể từ tháng Giêng năm 1973. Mỹ ký với Việt Cộng và Bắc Việt Nam, Hiệp Định Paris đồng ý rút quân, để mặc miền Nam tự lo liệu lấy sự sống còn. Cuộc tấn công của Cộng quân vào thị trấn Ban Mê Thuột sáng sớm ngày 10 tháng 3 năm 1975 gây kinh ngạc và xáo trộn gần như toàn bộ kế hoạch chiến tranh của Việt Nam Cộng Hòa.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mất niềm tin ở người Mỹ, ông tha thiết xin viện trợ, Mỹ làm ngơ. Để sẳn sàng ứng phó với tình hình ngày càng xấu bởi lãnh thổ quá rộng khó bề kiểm soát, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhân danh Tư Lệnh Tối Cao của quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông ra lệnh… di tản chiến thuật: Quân Đoàn II từ Pleiku rút về Nha Trang, Quân Đoàn I từ Huế lui vào Đà Nẵng. Cuộc di tản chiến thuật ‘không tiền khoáng hậu” gây đổ vỡ từng mảng lớn đất đai và cả lòng dân. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lung túng và mở cấp tốc những phiên họp, hết Sài Gòn ra tới Cam Ranh. Kết quả những phiên họp ấy là… bỏ hẳn Cao Nguyên Trung Phần và xóa sổ Vùng I! Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ngỡ ngàng. Ông không hiểu tại sao Tổng Thống Thiệu lại thay đổi kế hoạch bảo vệ ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Tr/T Trưởng muốn tử thủ Huế để giữ Thành lại, vì ông tin các binh lính, lực lượng Quân - Sư Đoàn của ông đủ tinh thần và dũng mãnh để chống trả với địch quân…
Không một ai trách móc Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vì ai cũng biết ông là một vị Tướng hết lòng thương Lính thương Dân. Suốt ba mươi mốt năm nương náu xứ người, ông không hề cất tiếng than van hay đổ lỗi cho ai. Ông sống lặng thầm, trong đớn đau, trong tủi thẹn: Chí lớn không tung được trời xanh và Dân Tộc Việt Nam bao giờ mới tìm được Hạnh Phúc - Tự Do.
Đến nỗi ông ngả bệnh mà cũng cắn răng chịu đựng. Ba năm trời dài lê thê… cho tới khi yếu sức vào bệnh viện… nghe nói ông đã yêu cầu Bác sĩ tiêm cho thuốc giảm đau vào những giờ phút cuối cùng. Và ông đã ra đi lặng lẽ… mãi ngàn thu!
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ở mãi mãi trong lòng quân dân Việt Nam mỗi lần nhớ nhắc lại câu “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng”. Đó là bốn vị Tướng có nhiều công trận, quyền uy cao nhưng không hề biết tham nhũng hay hối mại quyền thế!
Tin từ các đài phát thanh, truyền hình, báo chí Việt & Mỹ cho biết: xác Trung Tướng Ngô Quang Trưởng quàn tại Fairfax Memorial ở Virginia, bắt đầu thăm viếng từ thứ Tư 24 tháng 1/2007. Ba giờ chiều ngày 25/1/2007 ông được hỏa thiêu sau khi được các Hội Đoàn cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thực hiện phủ lá quốc kỳ trên quan tài, long trọng với đầy đủ lễ nghi quân cách cho một người chiến sĩ anh hùng đã hết lòng phnụg sự cho Tổ Quốc .
Sao tang lễ tiễn đưa ông vội vàng thế nhỉ?!
Ngày thứ Năm giữa tuần, có nhiều người xin nghỉ phép không được để đến nhà quàn chào ông lần cuối? Tôi thầm hỏi giữa hai giòng nước mắt. Đường quá xa xôi, mà ngày tiễn biệt ôi quá cận gần!
Lúc ông khoác nhung y năm 1954, khóa IV trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi chưa ra đời. Gần hai mươi năm sống trong lòng đất nước, tôi chưa một lần được gặp hay thấy ông. Ra hải ngoại, ít nghe ai nhắc ông bởi ông từ chối mọi tiếp xúc hoặc đề cập ngợi khen, Nhưng tôi nghe qua nhiều anh em bằng hữu, đọc thêm sách báo nên biết tiểu sử, tấm lòng và công lao của ông đối với Tổ quốc, nên thầm ngưỡng mộ. Sau này bổng có cơ duyên gặp gỡ, tiếp xúc với ông, tôi biết thêm, sau ngày đổ vỡ quê hương, ông cảm khái lặng im trong nỗi niềm đau xót riêng mang, tôi càng kính trọng ông hơn.
Ngày ông mất, tôi tiếc mình chỉ có hai giòng nước mắt khóc tiễn đưa… không đến được để chào ông lần cuối. Thương ông quá chừng, cả một đời binh nghiệp gánh nặng hai vai.
Kính trọng ông biết bao lúc quyền uy không cao ngạo mà luôn nghiêng vai sát cánh thật gần với Lính với Dân.
Xa Tổ quốc, ông thà im lặng để giữ tròn tiết tháo, vẫn một lòng tha thiết mối u hoài nhớ Nước như tâm cảm người chí sĩ Phan Bội Châu khi xưa:
“Hằng ngày dựa lầu ngóng về Nam mà ngậm ngùi
lòng rối bời như mây gỡ không ra
cơn mưa rào đêm khuya, ngồi khóc thầm
bóng chiều đã xế, trăng vừa hé, nhạn bay về bơ vơ
không có ngọn lửa rực để đốt hết nỗi sầu
lại thêm cuồng phong mang giận đến
nhìn bóng mình, tự thương rồi lại ngẫm buồn
đồng bào còn như thế, ta có đáng xót xa gì!”
Hôm nay, Tướng công Ngô Quang Trưởng đã hạc nội mây ngàn về phía trời Nam hẳn rồi. Tôi chân thành tiễn biệt ông với muôn vàn kính trọng và luyến tiếc:
“chiến sĩ hành bất khứ hồi
Tướng Ngô Quang Trưởng đúng người Chinh Nhân
ông đi khi Đất Nước cần
ông không về bởi vì Dân chưa Hòa
từ khi đeo kiếm cung ngà
oằn vai hai chữ Nước Nhà tiến lên
Sử xanh ông đã rạng tên
cuộc đời xa xứ hết phiền từ đây
hồn ông thành khói thành mây
bốn phương trời đất vương đầy nhớ thương”
n.t.
Kính chào vĩnh biệt Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Xin được phép miễn chúc ông về miền Cực Lạc mà mong mỏi ông ở hoài hoài, sống mãi mãi trong lòng các chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào Việt Nam.
ngay09
07-24-2007, 11:17 PM
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân
tka23
Tên tuổi của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã bắt đầu lừng lẫy từ khi ông còn là một sĩ quan cấp Úy phục vụ trong binh chủng Mũ Nâu Biệt Động Quân ở Miền Tây. Các cấp chỉ huy Biệt Động Quân trong thời điểm đầu những năm 1960 đã để ý nhiều đến tân Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đội Trưởng BĐQ, về những hành động quả cảm đến phi thường trong những cuộc giao tranh. Người Trung Đội Trưởng trẻ mới có 22 tuổi đời đã đứng xõng lưng dẫn quân Mũ Nâu xung phong lên đánh những trận long trời trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Những chiếc lon mới nở nhanh theo cùng với những chiến thắng. Chỉ trong vòng bốn năm, Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn đã được vinh thăng lên đến cấp bậc Đại Úy và được điều về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh "Tia Sét Miền Tây". Lúc đó trên lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật đã nổi lên những khuôn mặt chiến binh dũng mãnh mà đã đƯợc ca tụng là những con mãnh hổ miền Tây, Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn có vinh dự nằm trong số năm vị này. Những vị còn lại gồm những tên tuổi như sau:
- Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân
- Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.
- Thiếu Tá Lê Văn Dần, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân.
- Thiếu Tá Lê Văn Hưng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, SĐ21BB.
- Thiếu Tá Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 33, SĐ21BB.
Thật ra bản danh sách này chỉ có tính cách ước lệ và tượng trưng, đâu phải một Miền Tây rộng bát ngát mà chỉ có vỏn vẹn có năm người hùng. Mỗi người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng được vinh danh là những anh hùng, vì những đóng góp máu xương quá lớn cho tổ quốc.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24.3.1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá. Thân phụ của ông là một hạ sĩ quan phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (danh xưng của quân đội trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Đại Tá Cẩn không may sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, nên khi lên bảy tuổi ông sắp sửa cắp sách đến trường, thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, việc học của ông bị gián đoạn.
Mãi hai năm sau, tức vào năm 1947 ông mới được đi học lại, sau khi tình hình ở các thành phố trở lại yên tĩnh, quân Việt Minh rút về các chiến khu, quân Pháp chiếm đóng các thành phố. Cậu bé Cẩn học muộn đến những hai năm, khi ông học tiểu học được bốn năm thì thân sinh của cậu quyết định xin cho cậu nhập học Trường Thiếu Sinh Quân Gia Định.
Có lẽ vị thân sinh của người đã nhìn thấy được những dấu hiệu, những nảy nở của tinh thần và ý hướng, mà sau này sẽ hướng người vào con đường binh nghiệp, sẽ làm nên những công nghiệp lớn có ích lợi cho đất nước
o0o
Cuộc đời đèn sách trễ nải của chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn, lúc này đã 17 tuổi, đã ngáng bước đi lên về mặt văn hóa. Theo học quy của Trường Thiếu Sinh Quân, một học sinh ở độ tuổi 17 chưa học xong Đệ Ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Vì vậy chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn được trường gửi lên Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức học khóa chuyên môn CC1 Vũ Khí. Trong lớp văn hóa hồi ở Trường TSQ, ông chỉ ở mức trung bình, nhưng sau ba tháng học ở Thủ Đức, chàng trai trẻ lại đậu hạng ưu. Ông được cho học thêm khóa chuyên môn vũ khí bậc nhì CC2. Sau khóa học này ông quyết định đăng vào phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, với cấp bậc Binh Nhì. Theo quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân, thì ba tháng sau, Binh Nhì Hồ Ngọc Cẩn sẽ được thăng lên Hạ Sĩ, ba tháng kế tiếp được lên Hạ Sĩ Nhất và ba tháng sau nữa được thăng Trung Sĩ. Trong vòng chín tháng kế tiếp, với khả năng ưu hạng về môn vũ khí, Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được chọn làm huấn luyện viên vũ khí cho trường.
Cuộc đời làm huấn luyện của ông những tưởng êm đềm trôi và tài năng quân sự của người sẽ bị mai một trong một ngôi trường khiêm tốn. Nhưng định mệnh đã dành cho người anh hùng một vị trí xứng đáng trong quân đội và những cơ hội thi thố tài năng, mà sau này được mọi người truyền tụng lại như là những huyền thoại, để phục vụ và bảo vệ tổ quốc.
Tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng cho một quốc gia non trẻ và một quân đội còn tập tễnh kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy thiếu hụt. Bộ Quốc Phòng quyết định mở các khóa Sĩ Quan Đặc Biệt bắt đầu từ năm 1962 để cung cấp thêm sĩ quan có khả năng cho chiến trường và nâng đỡ những Hạ Sĩ Quan có ước vọng thăng tiến. Một may mắn lớn cho Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn, mà cũng là may mắn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, một cựu Thiếu Sinh Quân, đã nâng đỡ cho các đàn em TSQ. Những Thiếu Sinh Quân không hội đủ năm năm quân vụ và có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vẫn được cho đi học Khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Hơn nữa, dường như Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại
Tướng Lê Văn Tỵ có mật lệnh, các tân Chuẩn Úy xuất thân từ Thiếu Sinh Quân đều được đưa về các binh chủng thiện chiến hay đặc biệt như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, Quân Báo, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt. Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ cũng không quên gửi những Thiếu Sinh Quân tốt nghiệp Tú Tài vào học các Trường Cao Đẳng Sư Phạm và Y Khoa để có nhân tài phục vụ xã hội và huấn luyện lại cho những thế hệ tuổi trẻ kế tiếp. Đặc biệt nhiều
Thiếu Sinh Quân cũng được cho vào học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt để làm nền tảng cho cái xương sống chỉ huy chuyên nghiệp trong hệ thống quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được cho theo học Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH, Đồng Đế, Nha Trang. Các tân Chuẩn Úy Đặc Biệt, trong đó có Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn tung cánh đại bàng bay đi khắp bốn phương và sau này đã trở thành những sĩ quan tài giỏi nhất của quân lực, lưu danh quân sử. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn được thuyên chuyển về Biệt Động Quân Vùng 4 Chiến Thuật Miền Tây, sau một khóa học Rừng Núi Sình Lầy của binh chủng Mũ Nâu. Lúc đó các đại đội BĐQ biệt lập theo lệnh của TT Diệm, đã được cải tổ và sát nhập thành các tiểu đoàn. Khu 42 Chiến Thuật gồm lãnh thổ các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu và An Xuyên, có hai tiểu đoàn BĐQ, mà lại là hai tiểu đoàn lừng lẫy nhất của binh chủng. Đó là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân "Cọp Ba Đầu Rằn", và Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân "Cọp Xám". Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu Đoàn 42 BĐQ và làm Trung Đội Trưởng.
Khả năng quân sự thiên bẩm, tài chỉ huy và sự chiến đấu hết sức gan dạ của Chuẩn Úy Cẩn, mà đã đem nhiều chiến thắng vang dội về cho TĐ42BĐQ, được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận, đã nhanh chóng xác nhận Trung Úy tân thăng
Hồ Ngọc Cẩn có khả năng chỉ huy tiểu đoàn. Trung Úy Cẩn được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 42BĐQ, đặt dưới quyền chỉ huy của một chiến binh lừng lẫy và nhiều huyền thoại không kém gì Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, xuất thân từ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, với tác phong chiến đấu dũng cảm làm quân giặc kiêng sợ và thuộc cấp kính phục. Cung cách đánh giặc như vũ bão của Trung Úy Cẩn còn được nhân lên thập bội, khi lời yêu cầu của ông lên cấp chỉ huy xin cho các chiến binh gốc Thiếu Sinh Quân được về chiến đấu chung với ông.
Lời yêu cầu này được thỏa mãn một phần, nhưng cũng đủ để cho Trung Úy Cẩn có thêm được sức mạnh cần thiết. Có lần ông tâm sự với một người bạn lý do này: "Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu Thiếu Sinh Quân này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng nó về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà quân trường không dạy. Hai là truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi. Vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu Thiếu Sinh Quân đều như tôi".
Một câu chuyện dũng cảm và cảm động khác kể về Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 Bộ Binh tại mặt trận An Lộc năm 1972. Trong khi quân của Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh bị pháo địch nã hàng ngàn quả ghìm đầu xuống trong những hố cá nhân bên đường Quốc Lộ 13 gần thị xã An Lộc, thì binh sĩ trung đoàn ngạc nhiên lẫn cảm kích khi thấy vị Trung Đoàn Trưởng của họ dẫn vài người lính cũng quả cảm như vị chỉ huy điềm tĩnh đi thẳng lưng dưới cơn hỏa pháo cường kích như bão lửa của Sư Đoàn 7 Bắc Việt từ công sự này sang hố chiến đấu kia thăm hỏi chiến sĩ, an ủi các chiến thương và khích lệ tinh thần binh sĩ.
Chiến binh Hồ Ngọc Cẩn coi thường cái chết, mà dường như cái chết cũng sợ hãi và tránh xa con người kiệt xuất ấy. Định mệnh sẽ dành cho người một cái chết cao cả nhất, ít nhất cũng chưa phải là trong mùa hè đỏ lửa của năm 1972. Dường như giữa Trung Tá Cẩn và cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí có rất nhiều chất hào hùng quả cảm giống như nhau. Đại Tướng Đỗ Cao Trí thường nói với các phóng viên ngoại quốc đi trong cánh quân của người, khi họ tỏ lòng khâm phục người chiến binh Nhảy Dù ấy đã đứng giơ cao khẩu súng Browning thúc giục binh sĩ tiến lên, giữa những làn đạn đan chéo như vải trấu của địch quân: "Nếu đạn không trúng mình thì mình được tiếng anh hùng, mà nếu đạn có trúng thì mình cũng được tiếng anh hùng luôn"!
Các loại pháo địch từ 122ly đến 130ly, chưa kể đến những loại cối 81ly và các loại súng đại bác không giật 75 ly và 90 ly dội hàng chục ngàn quả lên vị trí của quân ta. Quân Trung Đoàn 15 đánh lên An Lộc dọc theo QL13 từ Tân Khai tiến rất chậm vì đạn pháo giặc. Để tránh bị thiệt hại nặng, Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn đã lệnh cho binh sĩ mỗi người đào một hố nhỏ như những cái "miệng ve" để ẩn trú.
Nếu pháo dội trúng cái "miệng ve" nào, thì chỉ một chiến sĩ ở chỗ đó bị tử thương mà thôi. Trong một khoảng chiến tuyến mỗi chiều bề dài 300 thước, có hàng mấy trăm cái hố nhỏ, mấy ngàn quả pháo của cộng quân dội xuống, tính trung bình mỗi mét vuông lãnh vài trái. Nếu tính theo lý thuyết toán học thì mỗi chiến sĩ Trung Đoàn "ăn" từ hai trái lấy lên, và như vậy toàn bộ trung đoàn coi như chết hết.
Nhưng thật kỳ diệu, chiến thuật "cò ỉa miệng ve" của quân ta lại cứu sống hàng ngàn sinh mạng chiến sĩ. Dứt cơn pháo địch, chiến sĩ ta nhú đầu lên điểm danh quân số, thì thấy rằng, nhờ ơn trời, rất ít chiến thương. Tuy nhiên khi quân Trung Đoàn 15 tiến quân trên QL13 và giao chiến với quân địch, thì con số thương vong lên rất cao. Có nhiều đại đội trên 100 người, khi tàn cuộc chiến trở về Quân Khu IV chỉ còn khoảng ba chục chiến sĩ.
Ở phía Nam Tân Khai, Sư Đoàn 21 Bộ Binh cũng bị thiệt hại nặng vì pháo, nhiều sĩ quan cao cấp bị tử thương. Trung Đoàn Trưởng của một trung đoàn là Trung Tá Nguyễn Viết Cần và một vị Trung Tá Trung Đoàn Phó của một trung đoàn khác hy sinh vì pháo địch quá ác liệt. Trung Tá Nguyễn Viết Cần chính là bào đệ của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh. Ông xuất thân từ binh chủng Mũ Đỏ Nhảy Dù, con đường binh nghiệp đang có nhiều triển vọng đi lên thì ông bị liên can trong vụ thuộc cấp ngộ sát hai Quân Cảnh Mỹ tại Sài Gòn.
Thiếu Tá Cần bị thuyên chuyển về SĐ 21 BB, ít lâu sau ông thăng Trung Tá và nắm trung đoàn. Cuối cùng thì dòng họ Nguyễn Viết đã cống hiến cho đất nước đến hai người con ưu tú. Theo lời kể lại của Đại Úy Tiến, một vị Tiểu Đoàn Phó của Trung Đoàn 15 Bộ Binh lên An Lộc tham chiến, thì Trung Tá Cẩn đã lệnh cho ông phải đứng lên điều động binh sĩ giữa lúc đạn pháo giặc dội như bão xuống các vị trí Trung Đoàn. Tất cả các vị chỉ huy cao cấp của Trung Đoàn đều phải nêu gương dũng cảm cho thuộc cấp và chiến sĩ, để cùng xông lên giải cứu An Lộc. Vì những chiến công ngoài chiến trường, tính đến năm 1970 thì Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn là chiến sĩ được tưởng thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với 78 chiếc của gồm 1 Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, 25 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, 45 Anh Dũng Bội Tinh với các loại Ngôi Sao, 3 Chiến Thương Bội Tinh và 4 Huy Chương Hoa Kỳ.
Sau khi trở về từ An Lộc, Trung Đoàn 15 Bộ Binh còn tăng viện cho các trung đoàn bạn và Sư Đoàn 7 Bộ Binh đánh những trận long trời ở miền biên giới Việt-Miên, các tỉnh bờ Bắc sông Tiền Giang. Những tổn thất và vết thương còn chưa hồi phục từ chiến trường Miền Đông, lại vỡ toác ra từng mảnh lớn khác. Nhưng có sá gì chuyện tử sinh, làm thân chiến sĩ thì người lính của chúng ta chỉ biết tận lực hiến dâng xương máu cho nền tự do của tổ quốc và cho niềm hạnh phúc của dân tộc. Một lần nữa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được trao cho một chức vụ trọng yếu và hết sức khó khăn, khó có ai đảm đương nổi. Ông sẽ đi trấn nhậm tỉnh Chương Thiện, một tỉnh có địa hình phức tạp nhất vùng đồng lầy Miền Tây, với cái gai nhọn nhức nhối mật khu U Minh Thượng trong lãnh thổ, từ đó quân Bắc Việt và Việt Cộng phóng ra những cuộc đánh phá lớn, uy hiếp các quận xã hẻo lánh.
Chọn Đại Tá Cẩn về trấn giữ tỉnh Chương Thiện, vị Tư Lệnh Quân Đoàn IV biết chắc Đại Tá Cẩn cùng với lực lượng Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thiện chiến của ông sẽ ít nhất hóa giải được áp lực giặc, không cho chúng tiến xuống Cần Thơ. Giữ vững được Chương Thiện tức là bảo đảm an toàn cho lãnh thổ Quân Khu IV ở bờ Nam sông Hậu Giang.
Trong thời gian Đại Tá Cẩn làm tỉnh trưởng Chương Thiện, nhiều huyền thoại khác về ông đã được kể lại. Đại Tá Cẩn chẳng những là một nhà quân sự xuất chúng, mà còn là một nhà cai trị và bình định tài ba. Một ngày trước khi ông nhận bàn giao tỉnh Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã ăn mặc thường phục, giả dạng thường dân đi thanh tra ngầm một vòng tỉnh lỵ Vị Thanh. Ông vào các sòng bài, những nơi nhận tiền đánh số đề và những ổ điếm quan sát.
Ngày hôm sau, khi đã chính thức là vị Tỉnh Trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn cho gọi người Thiếu Tá Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh đến cật vấn nghiêm khắc về những tệ đoan xã hội trong tỉnh, rồi lập tức cách chức ông này. Thay vào đó là Trung Tá Đường(k11 ), một vị sĩ quan mẫn cán và tài năng. Trung Tá Đường là cánh tay mặt vững chãi của Đại Tá trong lĩnh vực bình định, xã hội và truy bắt bọn Việt Cộng hoạt động dầy đặc trong tỉnh. Bọn cộng phỉ rất căm thù Trung Tá Đường, đến nỗi sau ngày 30.4.1975, chúng bắt được Trung Tá Đường, chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn rồi đem ông ra xử bắn tại Vị Thanh. Cùng đền ơn tổ quốc với Trung Tá Đường còn có Đại Úy Bé, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thám Báo Tỉnh. Đại Úy Bé đã làm điêu đứng bọn giặc cộng, với những chiến sĩ Thám Báo nhảy sâu vào hậu cứ địch báo cáo tin tức, địch tình, cũng như tọa độ trú quân để Không Quân, Pháo Binh dội những cơn bão lửa lên đầu chúng. Trung Tá Đường và Đại Úy Bé bị giặc tàn nhẫn bắn chết tại chân cầu dẫn vào thành phố Vị Thanh.
Có một ông Quận Trưởng nọ, muốn cho chi khu của mình được an toàn tối đa, chiều nào cũng xin Pháo Binh tiểu khu yểm trợ hỏa lực, nại lý do Việt Cộng pháo kích hay tấn công. Đại Tá Cẩn thỏa mãn tối đa và được báo cáo là quận bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực. Đại Tá tin thật, ông lệnh cho sĩ quan Trưởng Phòng 3 chuẩn bị xe Jeep đi xuống quận. Buổi chiều chạng vạng trên những con đường đất hoang vắng rợn người ở vùng quê Chương Thiện mà vị Tỉnh Trưởng trẻ của chúng ta dám đi xe Jeep cùng với một vài người lính, chỉ có những chiến binh dũng cảm như Đại Tá Cẩn mới làm được. Ông Quận Trưởng đang nằm trên võng rung đùi uống Martell hoảng kinh ngồi bật dậy mặt mũi tái xanh đứng nghiêm chào vị Tỉnh Trưởng đầy huyền thoại. Đại Tá Cẩn đi thẳng xuống Trung Tâm Hành Quân của Chi Khu xem bản đồ và ra lệnh cho ông Quận: "Tôi muốn những ấp loại C sau ba tháng được nâng lên loại B. Những ấp loại B sau ba tháng phải được nâng lên loại A". Ngài Quận Trưởng tạm ngưng uống rượu và làm việc trối chết. Đại Tá Cẩn không trừng trị tội xao nhãng nhiệm vụ của ông Quận, nhưng cung cách độ lượng và cương quyết của
Đại Tá Cẩn giống như lưỡi gươm trừng phạt treo đung đưa trên đầu. Đúng ba tháng sau, nhận được báo cáo khả quan của vị Quận Trưởng, Đại Tá Cẩn lại xuống quận ngủ đêm, sau khi đã trân trọng gắn lon mới tưởng thưởng cho ông này. Nếu tất cả 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đều có những vị Tỉnh Trưởng can đảm, mẫn cán và tài ba như Đại Tá Cẩn, làm sao giang sơn hoa gấm của tổ tiên của chúng ta có thể lọt vào tay bọn cộng nô tay sai Nga Tàu dễ dàng như vậy được. Chúng ta cũng được biết rằng, Đại Tá Cẩn là vị Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông nhận chức vụ này hồi năm 1973, lúc ông mới có 35 tuổi.
Những đóng góp và hy sinh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn lớn lao và nhiều không sao có thể kể được hết, suốt một đời người đã tận tụy với nước non, danh tiếng lừng lẫy và nắm giữ những chức vụ khó khăn, mà người vẫn khiêm nhường hết mực, giữ cuộc sống trong sáng và thanh liêm, tâm tư lúc nào cũng hướng về những thế hệ đàn em. Một người bạn cũ trong một dịp gặp lại Đại Tá Cẩn ở Cần Thơ vào mùa hè 1974, đã hỏi ông:"Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện làm Tỉnh Trưởng, anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm Tư Lệnh sư đoàn không"? Con người danh tiếng lừng lẫy trên các chiến trường đã khiêm tốn trả lời: "Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi, mình phải biết liêm sỉ chớ, coi sư đoàn sao được. Làm Tỉnh Trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi Trường Thiếu Sinh Quân, hoặc coi các lớp huấn luyện Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh mà tôi đã trải qua". Ôi cao cả biết ngần nào tấm chân tình với nước non và với thế hệ chiến binh đàn em của người. Con người chân chính để lại cho hậu thế những lời khí khái.
Cuối cùng thì cái ngày tang thương 30.4.1975 của đất nước cũng đến. Dân tộc Việt Nam được chứng kiến những cái chết bi tráng hào hùng của những vị thần tướng nước Nam, của những sĩ quan các cấp còn chưa được biết và nhắc nhở tới. Và của những người chiến sĩ vô danh, một đời tận tụy vì nước non, những đôi vai nhỏ bé gánh vác cả một sức nặng kinh khiếp của chiến tranh.
Sinh mệnh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng bị cuốn theo cơn lốc ai oán của vận mệnh đất nước. Chu vi phòng thủ của Tiểu Khu Chương Thiện co cụm dần, quân giặc hung hăng đưa quân tràn vào vây chặt lấy bốn phía. Những chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân của Chương Thiện nghiến răng ghì chặt tay súng, quyết một lòng liều sinh tử với vị chủ tướng anh hùng của mình. Đại Tá Cẩn nhớ lại lời đanh thép của ông: "Chết thì chết chứ không lùi". Ông tự biết những khoảnh khắc của cuộc đời mình cũng co ngắn lại dần theo với chu vi chiến tuyến.
Ông nhớ lại những ngày sình lầy với Biệt Động Quân, những ngày lên An Lộc với chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh đi trong cơn bão lửa ngửa nghiêng, những lúc cùng chiến sĩ Sư Đoàn 21 Bộ Binh đi lùng giặc trong những vùng rừng U Minh hoang dã, và những chuỗi ngày chung vai chiến đấu với chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thân thiết và dũng mãnh của ông trên những cánh đồng Chương Thiện hoang dã. Hơn ba trăm trận chiến đấu, nhưng chưa lần nào ông và chiến sĩ của ông phải đương đầu với một cuộc chiến cuối cùng khó khăn đến như thế này.
Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30.4.1975, gần nửa ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng, Đại Tá Cẩn cố liên lạc về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV xin lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Người trả lời ông lại là phu nhân Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Cẩn ngơ ngác không biết chuyện hệ trọng nào mà đã đưa Bà Hưng lên văn phòng Bộ Tư Lệnh. Bà Hưng áp sát ống nghe vào tai, bà nghe có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ầm ầm từ phía Đại Tá Cẩn. Như vậy là Tiểu Khu Chương Thiện vẫn còn đang chiến đấu ác liệt và không tuân lệnh hàng cùa tướng Minh. Trước đó, khoảng 8 G 45 phút tối 30.4.1975 Thiếu Tướng Lê Văn Hưng đã nổ súng tử tiết, Thiếu Tướng Nam đang đi thăm chiến sĩ và thương bệnh binh lần cuối cùng trong Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, rồi người tự sát ngay trong đêm. Bà Thiếu Tướng Hưng biết Đại Tá Cẩn kiên quyết chiến đấu đến cùng, thà chết không hàng, vì đó là tính cách thiên bẩm của người chiến sĩ Hồ Ngọc Cẩn.
Nếu có chết thì Đại Tá Cẩn phải chết hào hùng, trong danh dự của một người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa công chính. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đã đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa vòng vây của bầy lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không còn gì để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính Cộng chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Việt Cộng tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng:"Anh Cẩn, tội anh đáng chết vì những gì anh đã gây ra cho chúng tôi". Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời.
Nhưng bọn cộng phỉ không giết ông ngay, chúng đã có kế hoạch làm nhục người anh hùng sa cơ nhưng cứng cỏi của chúng ta. Các sĩ quan tham mưu được cho về nhà, nhưng Đại Tá Cẩn thì không, địch áp giải ông sang giam trong Ty Cảnh Sát Chương Thiện. Vài ngày sau, các sĩ quan Tiểu Khu Chương Thiện cũng bị gọi vào giam chung với Đại Tá Cẩn. Để làm nhục và hành hạ tinh thần người dũng tướng nước Nam, giặc cho phá hủy nhà cầu trong Ty Cảnh Sát và thay vào bằng một cái thùng nhựa.
Mỗi buổi sáng, ngày nào chúng cũng bắt Đại Tá Cẩn cùng một người nữa khiêng thùng phân đi đổ. Người ưu tiên được làm nhục thứ hai là vị Phó Tỉnh Trưởng. Dù cho các sĩ quan của ta có đề nghị hãy để cho mọi người làm công tác công bằng, nhưng bọn Cộng vẫn nhất quyết đày đọa Đại Tá Cẩn. Người anh hùng của chúng ta chỉ mỉm cười, ung dung làm công việc của mình. Chúa Jesus đã chẳng từng nói khi lên thập giá: "Lạy Cha ở trên trời, họ không biết việc họ đang làm" đó sao.
Bà Đại Tá Cẩn lo sợ bị cộng quân trả thù nên bà đã đem cậu con trai duy nhất của ông bà là Hồ Huỳnh Nguyên, lúc ấy được 5 tuổi, về Cần Thơ ẩn náu và thay đổi lý lịch nhiều lần. Nhớ thương chồng, nhiều lúc bà đã liều lĩnh choàng khăn che mặt xuống Vị Thanh tìm đến Ty Cảnh Sát đứng bên này bờ con rạch nghẹn ngào nhìn vào sang dãy tường rào kín bưng. Một vài sĩ quan ra xách nước trông thấy bà đã tìm cách dẫn Đại Tá Cẩn ra. Những khoảnh khắc cuối cùng đẫm đầy nước mắt ấy sẽ theo ký ức của bà Đại Tá Cẩn đến suốt khoảng đời còn lại của bà. Đầu năm 1979 bà Cẩn cùng bé Nguyên liều chết vượt biển. Thượng Đế đã dang tay từ ái bảo vệ giọt máu duy nhất của Đại Tá Cẩn.
Bà Cẩn và bé Nguyên đến được đảo Bidong thuộc Mã Lai. Mười tháng sau hai mẹ con bà Đại Tá Cẩn được phái đoàn phỏng vấn Mỹ cho định cư tại Hoa Kỳ theo dạng ưu tiên có chồng và cha bị cộng sản bắn chết tại Việt Nam.
Bọn phỉ không giết Đại Tá Cẩn ngay, chúng muốn làm nhục người và làm nhục quân dân Miền Tây. Bọn chúng sẽ thiết trí một pháp trường và dành cho người một cái chết thảm khốc hơn. Đại Tá Cẩn không thể tử tiết, vì là con chiên ngoan đạo, luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử. Đại Tá Cẩn thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thổ lộ tâm tư với thuộc cấp trước khi ra trận: "Sống chết nằm trong tay Chúa". Vì vậy viên đạn cuối cùng người bắn vào kẻ thù, để cho chúng biết rằng nước Nam không thiếu anh hùng.
Quân dân Miền Tây đã tiếc thương cái chết của hai vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng trong ngày u ám đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giờ đây, cũng trong bầu không khí ảm đạm đau buồn của ngày 14.8.1975, người dân thủ phủ Cần Thơ sẽ được chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Bọn sói lang đã áp giải người từ Chương Thiện về Cần Thơ và cho bọn ngưu đầu đi phóng thanh loan báo địa điểm, giờ phút hành hình người anh hùng cuối cùng của Quân Lực Việt Cộng Hòa. Bọn tiểu nhân cuồng sát thay vì nghiêng mình kính phục khí phách của người đối địch, thì chúng lại lấy lòng dạ của loài khỉ và loài quỷ để đòi máu của người phải chảy. Chúng quyết tâm giết Đại Tá Cẩn để đánh đòn tâm lý phủ đầu lên những người yêu nước nào còn dám tổ chức kháng cự lại bọn chúng. Thật đau đớn, trong khoảnh khắc cuối cùng này, bà Đại Tá Cẩn và người con trai còn phải ẩn trốn một nơi kín đáo theo lời căn dặn của Đại Tá Cẩn trước khi ông bị bắt, vì sợ bọn chúng bắt bớ tra tấn, nên bà không thể có mặt để chứng kiến giây phút Đại Tá Cẩn đi vào lịch sử.
Đại Tá Cẩn bị giải lên chỗ hành hình, mấy tên khăn rằn hung hăng ghìm súng bao quanh người chiến sĩ. Trước khi bắn người, tên chỉ huy cho phép người được nói. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: "Tôi chỉ có một mình, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối". Dĩ nhiên lời yêu cầu không được thỏa mãn. Đại Tá Cẩn còn muốn nói thêm những lời trối trăn hào hùng nữa, nhưng người đã bị mấy tên khăn rằn nón cối xông lên đè người xuống và bịt miệng lại. Tên chỉ huy ra lệnh hành quyết người anh hùng. Điều duy nhất mà bọn chúng thỏa mãn cho người là không bịt mắt, để người nhìn thẳng vào những họng súng thù, nhìn lần cuối quốc dân đồng bào. Rồi người ngạo nghễ ra đi. Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn. Thiếu Tá Tiếp đã cùng các chiến sĩ Địa Phương Quân Chi Khu chiến đấu dũng cảm đến sáng ngày 1.5.1975 thì ông bị sa vào tay giặc. Thiếu Tá Tiếp là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ông đã từng gây rất nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, nhờ tổ chức thám sát chính xác, có lần ông đã gọi B 52 dội trúng một trung đoàn cộng quân và hầu như xóa sổ trung đoàn này. Cộng quân ghi nhớ mối thù này, người anh hùng của chúng ta sa vào chúng, thì chúng sẽ giết chết ông không thương tiếc. Hai người anh hùng cuối cùng của miền Tây đã vĩnh viễn ra đi. Đất trời những ngày đầu mùa mưa bỗng tối sầm lại.
Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: "Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản"! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.
Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.
Đúng ra, phải vinh danh Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là Chuẩn Tướng Hồ Ngọc Cẩn, vì người đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường và vị quốc vong thân. Nhưng Tổng Thống Tổng Tư Lệnh, Tổng Tham Mưu Trưởng đã bỏ chạy từ lâu, Tư Lệnh Quân Khu IV đã tử tiết, lấy ai đủ tư cách trao gắn lon và truy thăng Chuẩn Tướng cho người. Anh linh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã thăng thiên.
Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử đến ngàn đời sau. Xin người hãy thương xót cho dân tộc và đất nước Việt Nam còn đang chìm đắm trong tối tăm và gông xiềng cộng sản, xin hãy ban cho những người còn đang sống khắc khoải sức mạnh và quyết tâm. Để cùng nhau đứng dậy lật đổ chúng, hất bọn chúng, tất cả bọn tự nhận là con cháu loài vượn đó vào vực thẳm lạnh lẽo nhất của địa ngục.
Phạm Phong Dinh
ngay09
07-24-2007, 11:19 PM
Tổ Quốc Ghi Ơn
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4
Tướng Hưng đã được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
************************************
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975)
Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê.
************************************
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975)
Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ đã tự kết liễu đời mình.
************************************
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975)
Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại trung tâm Ðồng Tâm.
************************************
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975)
Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân khòi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.
************************************
Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn
(1940-1975)
Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
************************************
Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh
Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.
*************************************
Trung Tá Nguyễn văn Long
Chánh Sở Cảnh Sát Tư Pháp Quân Khu I
Tuẩn tiết sáng 30-4-1975 dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến trước Hạ Viện
*********************************
The Seven Samurai in VietNam
The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hãng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương vì QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ gãy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời mình sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành vòng tròn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi vì danh dự
*******************************************
Sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù
Theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đình định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đã xã súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.
http://www.vobivietnam.com/forum/viewtopic.php?t=1690
ngay09
07-24-2007, 11:30 PM
Lực Lượng Biệt Hải
Kính Tặng Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Cựu Trung Tá Trương Duy Tài, Cố Trung Tá Trần Bá Tuân.
Biệt Hải ôm súng chờ xuất quân.
Trong bài này, tôi chỉ nói lên những điều mà tôi "biết" qua những chức vụ mà tôi đảm nhiệm trước và sau khi Sở PVDH được chính thức thành lập và cho đến ngày tôi rời đơn vị này, vào tháng 7/1967. Hy vọng bài viết này sẽ đem đến cho một số các anh em trong gia đình Biệt Hải tại hải ngoại một số tin tức để thêm vào sự hiểu biết của mình về một đơn vị mà mình đã từng phục vụ suốt cuộc đời thanh xuân trong cuộc chiến vừa qua tại Việt Nam.
Như tôi đã từng đề cập ở các bài trước, "Nha Kỹ Thuật" là tên vỏ bọc của Bộ Tư Lệnh chiến tranh Ngoại lệ (UNCONVENTIONAL WARFARE HEADQUARTERS) và các đơn vị trực thuộc được thành lập là do nhu cầu chiến lược của hai chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Sự phát triển cũng như kế hoạch hoạt động của NKT cũng như các đơn vị trực thuộc đều nhằm đáp ứng những nhu cầu chiến lược đó để hai chính phủ Việt-Mỹ hoạch định các chính sách, chuẩn bị các phương tiện nhằm đối phó với Cộng Sản Bắc Việt. Vì là một cơ quan "TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC" nên vấn đề "ngăn cách và bảo mật" (compart-mentation & secrecy) của BCH/NKT và các đơn vị trực thuộc được bảo vệ tối đa. Do đó, tuy có những quân nhân cùng phục vụ trong một đơn vị, ngoài những giờ sinh hoạt hằng ngày cùng với nhau, mọi công tác đều không ai được biết, ngoại trừ những người đã được chỉ định đảm nhận các công tác đó... Trước khi thực hiện công tác, toàn thể nhân viên liên quan đến công tác đều được tách riêng, tập trung vào khu cấm (ISOLA-TION CAMP). Sau đó, Sĩ quan Trưởng công tác hoặc đích thân Chỉ Huy Trưởng LLBH thuyết trình công tác theo lệnh hành quân, kiểm soát vũ khí, trang bị, kể cả trang bị đặc biệt. Kế đến, Trưởng toán thuyết trình cho toán, ấn định nhiệm vụ của từng toán viên.
Trái-Phải: Hạm Trưởng HQ Đại Úy Thanh (bí danh Nguyệt), CHT/BH Đại Úy Trương Duy Tài, HQ Đại Úy Lâm Nhật Ninh (trưởng toán HQ Người Nhái Athena), Thiếu Tá Ngô Thế Linh, Thiếu Úy Trần Kim Khánh - Non Nước, Mỹ Khê 1964.
Trước giờ xuất phát, CHT/LLBH kiểm soát lần chót. Xong, đưa toán đến địa điểm xuất phát. Ở đó, thủy thủ đoàn đã chờ sẵn. Trong suốt thời gian ở khu cấm, mọi liên lạc với bên ngoài đều tuyệt đối cấm. Vì những lý do trên, có một số anh em gia nhập LLBH về những năm sau này, nhất là sau ngày Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt, một số hoạt động của Sở PVDH bị thu hẹp lại, chuyển hướng hoạt động, một số đơn vị như các toán ROMULUS và ATHENA trở về đơn vị cũ- Thủy Quân Lục Chiến và Hải Quân, một số bị thương hoặc hết hợp đồng xin chuyển công tác nên quân số của LLBH bị giảm bớt... Đặc biệt, sau khi Trại Mỹ Khê và các trại trực thuộc được chuyển giao cho Đệ Tam Lực Lượng Thủy Bộ Hoa Kỳ (Third Marine Amphibious Forces, USA) và về đồn trú tại doanh trại gần chân núi Sơn Trà (còn gọi là Trại 9). Ngày nay, một số hồ sơ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, trong đó có các hoạt động của Nha Kỹ Thuật và MAC-SOG đã được giải mật, nên các hoạt động của Nha Kỹ Thuật và các đơn vị trực thuộc đã được bạch hóa.
Như tôi đã trình bày ở bài trước, Sở Bắc trực thuộc Sở Liên Lạc/ Phủ Tổng Thống. Ngoài các bộ phận không vận ở Sàigòn, còn có hai Chi cục khác nữa. Đó là Chi cục ATLANTIC đóng tại Huế, do Trung úy Trần Bá Tuân (Châu) làm Chi cục Trưởng. Chi cục này có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị và xâm nhập bằng đường bộ theo lệnh của Trung Ương. Chi cục PACIFIC đóng tại Đà Nẵng do Trung úy Nông An Pang làm Chi cục Trưởng. Chi cục này có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị, và xâm nhập Bắc Việt bằng đường thủy qua vĩ tuyến 17. Ngoài nhiệm vụ chính kể trên, Chi cục này còn quản trị một số thuyền máy gọi là "NAUTILUS", phụ trách việc chuyển vận và xâm nhập các toán bằng đường thủy do Trung Ương gửi ra. Trong những năm đầu, số thuyền máy này do Trung úy Nguyễn Nghiêm (LAN-TEDDY) phụ trách và quản lý. Ngoài các toán dài hạn, Chi cục PACIFIC cũng còn tuyển mộ thêm một số các quân nhân từ các Sư đoàn bộ binh và các quân binh chủng khác thuộc QLVNCH tình nguyện về phục vụ tại Sở Bắc. Những quân nhân này được thuyên chuyển về "Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống" và biệt Phái cho "Sở Liên Lạc / PTT".
Sau cuộc đảo chánh của các Tướng lãnh ngày 1. 11. 1963, nền Đệ nhất Cộng Hòa không còn nữa. Sở Liên Lạc/PTT biến thành BTL/LLĐB và Sở Bắc được cải danh thành Sở Kỹ Thuật rồi Nha Kỹ Thuật. Toàn bộ các quân nhân thuộc NKT đều do BTL/LLĐB quản trị về mặt hành chánh. Phần công tác đều nhận trực tiếp của Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH. Ngoài ra, Chi cục PACIFIC cũng còn tuyển mộ một số nhân viên dân chính theo hợp đồng như: "Thủy thủ đoàn các thuyền máy" và các nhân viên hành động khác, để chuẩn bị thành lập các toán hoạt động ngắn hạn sau này.
Từ năm 1961 đến đầu năm 1964 (trước ngày Sở PVDH được chính thức thành lập), Chi Cục PACIFIC, sau này đổi thành Trại Mỹ Khê có khoảng 40 nhân viên vừa quân đội vừa dân chính lấy tên là "LỰC LƯỢNG HẢI-KÍCH" đồn trú tại Trại ORION do Th/úy Nguyễn Duy Vân (Charlie) làm trại trưởng và đồn trú cạnh BTL Hải quân vùng I Duyên Hải trong các lều vải lớn. Nơi đây, có một bãi cát rất rộng, thích hợp cho việc huấn luyện bổ túc (REFRESHMENT TRAINING) gần sân bắn Nam Thọ và có cảng cho các thuyền máy cập bến. Th/úy Nguyễn Duy Vân còn gọi là Th/úy Cơ, năm 1974 Thiếu tá Vân, cùng gia đình đã hy sinh trong cuộc đột kích của đặc công Cộng Sản tại TT Huấn Luyện QUYẾT THẮNG (Long Thành). Đầu năm 1962 đến cuối năm 1963, trại Huấn luyện Mỹ Khê được tiếp tục xây cất gồm trại Mỹ Khê và 9 (chín) trại khác, đồn trú rải rác và cách biệt nhau từ 200-300 thước, từ phía Nam cạnh chân núi Ngũ hoành sơn (Non Nước) đến chân núi Sơn Trà phía Bắc.
Kể từ ngày 1/4/1964, Sở Phòng Vệ Duyên Hải được chính thức thành lập và tạm thời đóng tại 52 Bạch Đằng, Đà Nẵng (WHITE ELEPHANT) chung với Cơ quan Cố Vấn Hoa Kỳ là CSD (Combined Studies Division). Hai Chi Cục Atlantic & Pacific được chính thức giải tán. Trung úy Nông An Pang trở về trung ương. Đại úy Hà Ngọc Oánh được bổ nhiệm làm Trưởng Trại Mỹ Khê. Sau một thời gian, Đ/úy Hà Ngọc Oánh được bổ nhiệm một chức vụ khác ở Trung ương. Tung úy Nguyễn Nghiêm được vinh thăng Đại úy và bổ nhiệm Chức vụ Trưởng Trại Mỹ Khê thay thế Đ/úy Hà Ngọc Oánh. Trung úy Trương Duy Tài tạm thời được đề cử làm CHT "Căn Cứ Hải Tuần" còn gọi là "UPPER BASE". Sau khi Sở Phòng Duyên Hải được chính thức thành lập và Cơ quan CSD bàn giao lại cho Cơ quan NAD (NAVAL ADVISORY DETACHMENT) thì Sở được tổ chức như sau:
1) Bộ Chỉ Huy Sở PVDH.
2) Lực Lượng Hải Tuần gồm: Thành phần yểm trợ và 16 thủy thủ đoàn. Mỗi thủy thủ đoàn PTF gồm 16 n/v (SQ+ HSQ Hải Quân). HQ Th/Tá Diệp Quang Thủy (sau này là Phó Đề Đốc) được chính thức bổ nhiệm Chức vụ CHT Lực Lượng Hải Tuần.
3) Lực Lượng Biệt Hải: Đại úy Nguyễn Nghiêm (còn gọi là Nguyễn Lan) được thuyên chuyển về Sở Tâm Lý Chiến/NKT và Trung úy Trương Duy Tài, vinh thăng Đại úy và được chính thức bổ nhiệm Chức vụ CHT Lực Lượng Biệt Hải (Đ/úy Trương Duy Tài còn có tên là Đoàn Hùng). Lực Lượng Biệt Hải có quân số trên 200 người và được phân phối như sau:
a/ THÀNH PHẦN HÀNH ĐỘNG (Action Elements)
Trại 1: Toán ROMULUS gồm 50 SQ+HSQ thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tăng phái do Th/úy Dương Văn Hưng và Th/úy Ngộ Chỉ Huy.
Trại 2: Toán ATHENA gồm 45 toán viên Người Nhái của Hải Quân VN do Đ/úy Lâm Nhựt Ninh Chỉ huy. Toán này do BTL Hải Quân VNCH tăng phái.
Trại 3: Toán NIMBUS gồm 40 toán viên đều thuộc thành phần quân đội do một Thượng Sĩ (sau vinh thăng Chuẩn úy, không nhớ tên) Chỉ huy. Sau này do Th/úy Nguyễn Công Thanh làm Trưởng toán.
Trại 4: Toán CUMULUS gồm 40 toán viên cũng thuộc thành phần quân đội do Th/úy Nguyễn Hữu Hà (Hoàng) Chỉ huy. Sau này do Thượng Sĩ Hòa làm trưởng toán.
Trại 5: Toán Mercury chừng 35 toán viên, toán này toàn nhân viên dân chính tình nguyện phục vụ theo hợp đồng dưới danh nghĩa Biệt Kích Quân. toán này do Th/úy Nguyễn Bá Lộc (Ninh) chỉ huy. Sau này không rõ ai làm Trưởng Toán khi Th/úy Lộc được bổ nhiệm chức vụ Trưởng Phòng 5/Sở PVDH.
Trại 6: Toán VEGA. Toán này có chừng 30 toán viên gồm toàn nhân viên của Lực Lượng Hải Thuyền do BTL Hải Quân tăng phái. Toán này do HQ Đ/úy Trịnh Hòa Hiệp ( Người Nhái của Hải Quân VN) Chỉ huy.
Trại 8: Toán Cancer có 6 toán viên gồm quân đội lẫn dân chính, có 2 nhân viên Nùng. Toán này do Th/úy Hoài (người viết) kiêm Trưởng công tác (case office).
b/ THÀNH PHẦN YỂM TRỢ (SUPPORT ELEMENTS)
Trại Mỹ Khê:
* Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Biệt Hải
* Nơi ở của Toán Cố Vấn và Huấn Luyện Viên Hoa Kỳ.
* Trại Sĩ Quan Độc Thân.
* Thông Dịch Viên
* Trung Đội An Ninh Phòng Thủ
* Câu Lạc Bộ v.v...
Trại 7 (Mỹ Thị): BCH Đại Đội An Ninh gồm 120 Dân Sự Chiến Đấu do Th/úy Nguyễn Văn Nghĩa (Nhơn) làm Đại Đội Trưởng và là bãi thực tập phá hoại của LLBH.
Trại 9: Dùng làm khu cấm (ISOLATION CAMP).
c/ HUẤN LUYỆN:
Ngoại trừ toán ATHENA và toán CANCER chịu phần huấn luyện bổ túc chuyên môn về phá hoại dưới nước (UDT, UNDERWATER DEMOLITION TECHNICS) do các HLV Hoa Kỳ thuộc Navy Seal huấn luyện và trang bị. Các toán khác đều phải qua một chương trình huấn luyện Biệt Hải dài 24 tuần lễ, kể cả 2 tuần lễ huấn nhục (HELL WEEKS). Trong thời gian huấn luyện này, các toán phải trải qua một chương trình huấn luyện rất cam go như chạy bộ, bơi lội, chèo thuyền cao su, vượt sóng. Đọc bản đồ, định hướng bằng địa bàn, đổ bộ, đột kích bằng thuyền, phục kích, bắt tù binh, xử dụng thành thạo các loại vũ khí của khối Tự Do lẫn Cộng Sản, kể cả vũ khí nặng như Đại liên 30 ly, 50 ly, súng phóng hỏa tiễn 35 và 57 ly không giật, súng cối 60+61 ly, 81+82 ly, súng phun lửa, ném lựu đạn, xử dụng các loại mìn, chất nổ, phá hoại, v.v...
Đặc biệt 2 tuần lễ Huấn-Nhục thì mỗi ngày một toán viên chỉ được ngủ từ 1 đến 3 tiếng đồng hồ. Sau khi hoàn tất chương trình huấn luyện Biệt Hải, các toán viên phải học thêm phần Nhảy dù. Khóa sinh có thể nhảy dù ở TTHL Sư đoàn Nhảy dù, ở TTHL Long Thành hoặc do SPVDH tổ chức với sự chấp thuận của Bộ Tổng Tham Mưu và BCH/NKT. Các HLV Hoa Kỳ do NAD và HLV Việt Nam do Nha Kỹ Thuật biệt phái. Mỗi khóa học dài 3 tuần lễ, gồm 2 tuần học dưới đất và một tuần lễ trên không. Mỗi khóa sinh phải thực hiện 7 lần nhảy dù gồm 6 xô ngày và một xô đêm. Sau khi được cấp bằng nhảy dù, các toán viên quân đội được hưởng không quân vụ theo cấp bậc và thâm niên. Các toán viên dân chính (BKQ) được hưởng thêm $500.00/tháng+lương chính.
Trong suốt thời gian tôi phục vụ tại Chi Cục PACIFIC, rồi Trại Mỹ Khê (tiền thân của LL Biệt Hải) kể từ ngày còn phôi thai, rồi đến BCH Sở PVDH, tôi cũng đã cùng chung với anh em LL/Biệt Hải trải qua những vui buồn (lúc chiến thắng của đơn vị), buồn (lúc các chiến hữu bị thương, mất tích hoặc tử thương) cùng chịu những gian lao, vất vả trong mọi công tác giao phó cho đến ngày đơn vị trưởng thành. Lực Lượng Biệt Hải đã tham gia nhiều chuyến công tác khó khăn, nguy hiểm dọc duyên hải Bắc Việt. Lực Lượng Biệt Hải đã cùng với Lực Lượng Hải Tuần thuộc Sở PVDH tạo nhiều chiến tích oai hùng, gây cho Cộng Sản Bắc Việt nhiều tổn thất nặng nề qua các chuyến xâm nhập từ biển vào đánh phá các mục tiêu dọc bờ biển BV, đột kích vào hải đảo hay vào đất liền để đánh phá các mục tiêu quân sự cùng phá hoại những cơ sở thượng và hạ tầng của Cộng Sản, đã góp phần với các đơn vị Cơ hữu và tăng phái của NKT nói riêng, của QLVNCH nói chung, ngăn chận sự xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt vào miền Nam VN.
Do những chiến tích oai hùng này, năm 1965, một số quân nhân của các toán ROMULUS, ATHENA, NIMBUS và CUMULUS thuộc Lực Lượng Biệt Hải đã được Đại Tướng, Thủ Tướng Nguyễn Khánh vinh Thăng 2 cấp bậc một lượt, từ Hạ Sĩ thăng Trung Sĩ, từ Trung Sĩ thăng Thượng Sĩ và từ Thượng Sĩ thăng Chuẩn úy, không qua các cấp nhất (HS I, Tr/S I, Th/Sĩ I) trong dịp Thủ Tướng thăm Sở PVDH.
Khi LLBH bàn giao toàn thể doanh trại lại cho III MAF và tập trung về đồn trú tại doanh trại mới xây dựng tại chân núi Sơn Trà (trại 9), một thời gian sau đó Th/Tá Trương Duy Tài được bổ nhiệm Chức vụ PhụTá Tùy viên Quân Lực tại Lào, Thiếu Tá Trần Bá Tuân (Châu) được bổ nhiệm Chức vụ CHT/LL Biệt Hải thay thế Th/Tá Tài cho đến ngày Trung Tá được bổ nhiệm Chỉ Huy Phó Sở Công Tác.
Trong những năm sau này, nhất là sau khi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt (1. 11. 1968) các cuộc hành quân của Sở PVDH được chuyển hướng và tăng phái cho các BTL Quân đoàn hành quân tại miền Nam VN. Hơn nữa, một số Biệt Kích quân bị thương tật, hết hợp đồng nên xin cải tuyển qua thành nhân viên yểm trợ, hoặc xin giải ngũ trở về đời sống dân sự. Do đó, quân số của LLBH thu nhỏ lại, còn khoảng trên dưới 100 người. Nay thì một số anh em đã ra hải ngoại, một số còn kẹt lại tại quê nhà. Nhiều lúc hồi tưởng lại kỷ niệm của những năm tháng phục vụ tại LLBH và Sở PVDH, tôi lấy làm hãnh diện về những đóng góp và chiến tích của đơn vị. Tuy "không được ghi danh vào sử sách", tuy không được "bảng vàng, bia đá đề tên", nhưng chúng ta đã làm tròn bổn phận của một người dân đối với Tổ Quốc vì chúng ta là những "chiến sĩ vô-danh"! Ngoài ra, đôi lúc tôi cũng ngậm ngùi, thương cảm đối với các gia đình Biệt Hải đã có cha, chồng, anh, em đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhìn những thiếu phụ và những trẻ thơ đầu chít khăn tang trắng, với những giòng nước mắt của tiếc nhớ khôn nguôi, ai mà chẳng ngậm ngùi, rơi lệ!
Nhân dịp tham dự Lễ Giỗ các Biệt Hải kỳ III do gia đình Biệt Hải tổ chức tại nhà hàng SEAFOOD WORLD ngày 16. 6. 2002 vừa qua, anh Nguyễn Trâm, trưởng ban tổ chức cùng một số anh em Biệt Hải đã không quản ngại thì giờ, đường sá xa xôi, tụ họp về LITTLE SAIGON để cùng nhau thắp nén hương tưởng nhớ đến những đồng đội đã hy sinh vì Tổ Quốc, thăm hỏi và an ủi những gia đình cô nhi, quả phụ tử sĩ của những chiến hữu cũ, tìm cách giúp đỡ, tài trợ cho những gia đình các đồng đội khốn khó đang kẹt lại tại quê nhà, đã nói lên tình đồng đội keo sơn, gắn bó của LL/Biệt Hải chúng ta.
Năm nay, tôi tuổi đời đã cao, cũng "thất thập cổ lai hy" rồi! Tuy nhiên, những ngày còn lại của đời mình, nếu không vì một lý do gì đặc biệt cũng sẽ luôn tham dự những sinh hoạt của anh em Biệt Hải Hải Ngoại, để nói lên tình huynh đệ chi binh và cũng là dịp để chúng ta ôn lại những kỷ niệm, những vui buồn của quá khứ trong suốt thời gian cùng nhau phục vụ, cùng nhau chiến đấu dưới một bóng cờ trong những ngày binh lửa đã qua.
Thân ái chào tất cả anh em.
Nguyễn Thanh Hoài
Cựu TP2/SPVDH
ngay09
07-24-2007, 11:34 PM
Những người lính không có số quân
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
(LTS): VNCH đã giữ vững được cuộc sống tự do trong suốt 21 năm ngắn ngủi nhưng đầy gian truân, máu và nước mắt, đầy sự hy sinh của biết bao nhiêu người.
Trong số những sự hy sinh đó, phải nói tới sự hy sinh của người lính Biệt Kích Dù hoạt động tại Bắc Việt. Số phận của họ rất bi thảm khi bị kẹt tại Bắc Việt. Bảng tổng kết sơ khởi cho biết trong số những Biệt Kích Dù được thả ra miền Bắc có 7 người đã bị CS tuyên án tử hình vàđã bị hành quyết, 9 người tử trận, 21 người chết trong các trại tù khổ sai miền Bắc, 7 người chết sau khi được thả về, 2 người mất tích khi thi hành nhiệm vụ, 11 người bị chỉ định phải định cư tại các nông trường hay hợp tác xã miền Bắc. Đa số những người còn lại đều bị tra tấn dã man và bị bắt lao động khổ sai trong những trại tù khắc nghiệt nhất. Tại sao hầu hết các biệt kích thả xuống miền Bắc đã bị CS bắt?
Bài viết sau đây là của Trung Tá Nguyễn Văn Vinh, người trực tiếp phụ trách các toán Biệt Kích Dù được thả xuống Bắc Việt, sẽ cho chúng ta biết những nét đại cương về tổ chức các đơn vị Biệt Kích, các hoạt động của họ vàcách thức điều hành của cơ quan tình báo Hoa Kỳ.
Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt
Ít ai biết đến các tên P45, Sở Bắc hay Sở Khai Thác, tiền thân của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu. Đó là những bí danh của một cơ quan tình báo chiến lược, được thành lập từ cuối năm 1958, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống và nằm trong mạng lưới chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt VNCH. Cơ quan này được Hoa Kỳ yểm trợ cả về tài chánh lẫn các phương tiện cần thiết để thực hiện cuộc chiến tranh không quy ước chống miền Bắc CS.
Sau Hiệp Định đình chiến Geneva, vĩ tuyến 17 được chọn làm vùng phi quân sự và sông Bến Hải là biên giới thiên nhiên, ngăn cách 2 miền Nam Tự Do và Bắc CS. Quân đội viễn chinh Pháp, dưới áp lực của Hoa Kỳ, đã phải kéo cờ tam tài xuống khỏi dinh Norodom, nhường chỗ cho quốc kỳ VN tung bay tại dinh Độc lập vừa được đổi tên và đổi chủ. Để đáp lại, quân đội Pháp đã không nương tay, xóa sạch mạng lưới tình báo mà họ đã khổ công gầy dựng trong nhiều năm tại miền Bắc. Đây là một sự thiệt hại khá lớn cho ngành tình báo non trẻ của miền Nam. Trong khi đó, CS đã để lại tại miền Nam vô số cơ sở tình báo mà họ đã gầy dựng trong suốt thời kỳ chống Pháp, trong đó phải kể đến các thân nhân của các cán bộ và bộ đội tập kết. Thêm vào đó, các khuyết điểm to lớn chồng chất của 2 chế độ lỗi thời Thực dân dân và phong kiến đã làm mồi nuôi dưỡng các phong trào chống đối trong nội bộ miền Nam, rất thuận lợi cho các cán bộ CS nằm vùng khai thác.
Dù vậy, ngành tình báo miền Nam, tuy phải xây dựng trễ và phải đặt nền móng từ đầu, nhưng lại được hưởng ứng nồng nhiệt vì đa số người Việt thời ấy, nhất là đồng bào di cư, các bộ lạc dân tộc thiểu số, các đảng phái chính trị và tín đồ các tôn giáo, đã thấy rõ bộ mặt gian dối của CS. Có người đã chứng kiến những vụ tàn sát hay đấu tố dã man các thành phần quốc gia yêu nước nhưng bất đồng chính kiến với CS và có khi họ chính là thân nhân của các nạn nhân đó. Ngoài ra, những tài liệu sống động như cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống đã gây được một ấn tượng ghê tởm CS trong mọi tầng lớp nhân dân miền Nam.
Nắm được các yếu tố thuận lợi trên đây, Sở Bắc đã gấp rút gửi nhân viên đến các trại định cư, liên lạc với các vị lãnh đạo tinh thần cũng như các bộ lạc dân tộc thiểu số, chiêu mộ các thanh niên nhiệt tình yêu nước còn thân nhân ở tại miền Bắc, để cấp tốc đưa về huấn luyện và tạo vỏ bọc thuận lợi, đưa họ về quê quán hoạt động.
Từ những năm đầu tiên đến năm 1966, các toán xâm nhập miền Bắc thường xử dụng một trong những phương cách sau đây:
- Nhảy dù đêm vào vùng mục tiêu.
- Xâm nhập đường biển bằng thuyền mẹ, và từ đó xử dụng thuyền con bơi vào vùng công tác.
- Xâm nhập vào vùng phi quân sự, vượt sông Bến Hải và lén lút đi bộ vào điểm công tác, móc nối với thân nhân đã nằm vùng, hoặc giới chức được tín nhiệm tại địa phương. Trường hợp sau này thường phải xử dụng "bona fides" để nhận nhau.
-Cử chuyên viên phục vụ tại Tòa Đại Sứ của một vài nước thứ 3 như Lào, Cam-bốt, Pháp, Thái Lan hay Hồng Kông... rồi từ đó tuyển mộ và huấn luyện các công tác viên có khả năng, và tạo cho họ cái vỏ bọc thích hợp cũng như giấy tờ hợp lệ để họ dễ dàng xâm nhập vào miền Bắc hoạt động. Phương pháp này đã được điều nghiên tỉ mỉ, nhưng vì quá tốn kém nên chỉ được thực hiện từng giai đoạn.
Tuy có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau như vừa trình bày trên, nhưng trong bài này, tôi (Trung Tá Nguyễn Văn Vinh) chỉ xin đề cập đến những toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không mà thôi, vì đây là phần việc mà chính tôi đã đảm nhận trong nhiều năm tại cơ quan tình báo chiến lược này.
Những chuyến bay đêm
Các toán Biệt Kích Dù thường được thả xuống miền Bắc vào những đêm trăng. Mùa trăng thuận lợi cho công tác này bắt đầu từ ngày mồng 10 - 20 âm lịch hằng tháng. Giờ giấc được chọn tùy thuộc vào điều kiện an ninh và thời tiết tại vùng công tác. Để có đủ phương tiện đối phó với các bất trắc có thể xảy ra khi toán chạm đất, các nhân viên Biệt Kích Dù phải mang theo các trang bị cá nhân khá nặng nề. Ngoài súng tiểu liên Swedish K. của Thụy Điển hoặc Sten của Anh hay Uzi của Do Thái có trang bị ống giảm thanh và 3 đơn vị hỏa lực, họ còn phải đèo thêm các dụng cụ khác trên 20 món, nào bidon nước, bản đồ vùng mục tiêu, địa bàn, lựu đạn, 3 ngày lương khô, đèn bấm, pamean, dao găm, túi cứu thương cá nhân, càmèn, pháo hiệu (pen flare), đồng hồ đeo tay, radio, v.v...
Các dụng cụ này thường được mua ở các nước thứ 3 và không một trang cụ nào được mang nhãn hiệu Hoa Kỳ hay miền Nam VN. Các đồ trang bị tập thể nhưng dụng cụ phá hoại, đồ cứu thương, lương thực dự trữ dùng cho 3 tháng, v.v... đều được đóng thành kiện. Máy truyền tin dự trữ và máy beacon là máy phát tín hiệu có tầng số nhất định, được đặt tại kiện hàng số 1.
Các toán viên khi nhảy dù xâm nhập vào đêm, chiếc dù có thể bị ảnh hưởng của gió, bạt ra xa cách bãi thả 1-2 km. Nhưng nhờ các radio cá nhân, họ có thể dễ dàng bắt tín hiệu từ máy beacon phát ra, để đi về hướng tập trung.
Thông thường, các nhân viên quê quán vùng vào được thả về mục tiêu vùng đó. Để bảo đả an ninh cho công tác, mục tiêu và nhiệm vụ của toán chỉ được thuyết trình vào giờ chót, trước khi lên máy bay. Các chuyến xuất phát trong những năm đầu đến năm 1964, chính cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã yểm trợ cho các chuyến bay bí mật này và lộ trình duy nhất được xử dụng là Tân Sơn Nhất - Đà Nẵng - Vùng mục tiêu.
Tại Đà Nẵng, đợi lúc trời tối, phi cơ cởi bỏ hết mọi huy hiệu trước khi khởi hành xâm nhập vào vùng hành quân. Phi cơ được xử dụng là loại DC7 hoặc DC6. Phi hành đoàn thường là người Trung Hoạ Tuy nhiên, cũng có lúc phi hành đoàn là người VN, được tuyển chọn trong số sĩ quan có khả năng và được tín nhiệm nhất của Không Quân Việt Nam. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hồi còn mang lon Đại úy, đã nhiều lần làm phi công chính thức cho các phi vụ đặc biệt này. Đến cuối năm 1966, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rút vào bóng tối, nhường chỗ cho MAC-SOG, một cơ quan tình báo quân sự, thay thế yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật.
Khi cường độ chiến tranh VN đi đến giai đoạn khốc liệt nhất thì nhu cầu tin tức gia tăng cao, do đó số toán Biệt Kích Dù hoạt động phải được tăng cường nhiều hơn. Các phương tiện xâm nhập cũ được thay thế bằng C123 hoặc C130 và nơi phát xuất được chuyển sang Nakor-Phanum, một sân bay nằm sát biên giới Thái-Lào hoặc sân bay don nằm ở phía Đông-Bắc Thái Lan. Từ các nơi đó các toán Biệt Kích Dù được chuyển qua trực thăng CH3 để bay băng qua lãnh thổ Lào, tiến về vùng mục tiêu nằm trên ranh giới Lào-Việt. Cũng có lúc mục tiêu được lựa chọn nằm sâu trong nội địa Bắc Viêt.
Trực thăng là phương tiện xâm nhập vừa rẻ tiền vừa tiện lợi nhưng lại là phương tiện kém an toàn nhất, vì tiếng động cơ quá lớn, địch dễ phát hiện. Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân thất bại của công tác Biệt kích tại miền Bắc? Vấn đề này đã được phía VN quan tâm và nêu lên nhiều lần trong các phiên họp Việt-Mỹ, nhưng phía đối nhiệm không quan tâm.
Số phận những con chim lạc loài
Đến cuối năm 1968, trong số gần 40 toán được cho xâm nhập bằng đường hàng không và đường bộ để hoạt động dài hạn, chỉ con có 5 toán là còn giữ được liên lạc với Trung ương, đó làcác toán Tourbillon (1962), Ares (1962), Remus (1963), Easy (1963) và Eagle (1963). Theo đánh giá chung của các chuyên viên hữu trách Việt-Mỹ. thì cả 5 toán này hình như đã bị địch kiểm soát, nhưng cá nhân tôi vẫn còn tin tưởng một toán, đó là toán Ares. Sự tin tưởng này có thể đúng vì lý do sau đây:
Vào những năm đầu ở trại cải tạo, tôi thường bị cán bộ, không biết thuộc cơ quan nào và cấp nào, đã thay nhau thẩm vấn tôi về các toán Biệt Kích. một trong những lần thẩm vấn ấy, tôi bị 3 tên cùng một lúc thay nhau hạch hỏi suốt buổi sáng, khiến tôi không còn sức chịu đựng, tôi đã bị gục ngã vì tức giận và xây xẩm. Họ cho người dẫn tôi về phòng, nhưng 2 giờ sau lại kéo tôi lên tiếp tục thẩm vấn. Họ dùng đủ trò ma giáo "hỉ, nộ, ái, ố",... lúc thì mời tôi hút thuốc lá "có cán" (tức loại thuốc có đầu lọc, một loại thuốc cao cấp vào thời ấy), lúc lại đập bàn quát mắng, khinh bỉ. Họ chưa bao giờ đánh đập tôi lúc thẩm vấn, nhưng họ đã dùng những lời rất cộc cằn và thô lỗ để áp đảo tinh thần tôi.
Một điều làm tôi quan tâm hơn cả là họ hỏi tôi rất nhiều về toán Ares, như trưởng toán tên gì, quê quán ở đâu, tuổi tác độ bao nhiêu, dáng điệu bên ngoài như thế nào, có những đặc điểm gì, những liên hệ gia đình, địa chỉ của các người thân lúc ở miền Nam, v.v...
Tôi thầm nghĩ nếu Ares đã thật sự nằm trong tay họ thì mắc mớ gì họ phải hỏi tôi những chuyện thừa thãi ấy. Tôi có lý do để không trả lời họ, vì Ares đã xuất phát năm 1962, trước khi tôi được thuyên chuyển về Sở Bắc. Tuy nhiên, hôm nay tôi xin nói ra đây những gì tôi có thể nói ra được. Một vài chi tiết khác tôi thấy chưa thể tiết lộ lúc này vì có thể phương hại đến sự an toàn của toán đó, nếu quả thật toán đó đến nay vẫn còn giấu được tung tích.
Ares hay Hạ Long có tên thật là..., một cán bộ trung cấp và là đảng viên CS bị khai trừ vì bất mãn. Anh đã theo đoàn người di cư vào Nam năm... và được một giới chức miền Nam báo cáo lên ông Ngô Đình Nhu, Tổng Thống Diệm, ông Nhu đã lưu tâm và giúp đỡ cho người này. Sau dó, Sở Bắc đã cử người đến tiếp xúc thuyết phục và bố trí cho anh trở về Bắc hoạt động. Anh đồng ý và đã được đưa xâm nhập vào Vịnh Hạ Long năm 1962, rồi từ đó tiến dần về cảng Hải Phòng và nhà máy điện Uông Bí.
Đây là 2 mục tiêu mà anh có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi sinh hoạt. Ares tỏ ra rất tích cực trong mọi nhiệm vụ giao phó, và điều rất kỳ lạ là anh đã mộ mến Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách khác thường. Hàng năm, trước ngày Song Thất hoặc 26/10, anh đều đánh điện chúc mừng TT Diệm và nguyện trung thành phục vụ tổ quốc.
Khi nghe tin TT Diệm bị giết qua đài phát thanh, anh rất thắc mắc và sau khi được Trung ương xác nhận, anh đã tỏ ra chán nản tột độ. Dù vậy, anh vẫn thi hành mọi công tác giao phó một cách chu đáo. Những chuyến tàu cập bến Hải Phòng, nhất là các tàu chở vũ khí hay quân dụng, đã được anh theo dõi và báo cáo khá chi tiết. Ngoài nhiệm vụ trên, anh còn báo cáo kết quả oanh tạc của một số mục tiêu khác nhau như cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Uông Bí ở quanh vùng Hải Phòng.
Để giúp anh thi hành nhiệm vụ trong thời gian anh bị bịnh sốt rét, Trung ương đã chấp thuận đề nghị của anh, tuyển mộ thêm người em ruột và một hai người khác trong họ hàng, để phụ anh thực hiện quan sát các mục tiêu ở xa.
Trong những năm 1966, 1967 và 1968, bệnh sốt rét của anh trở nên trầm trọng, nhưng Trung ương không tiếp tế cho anh được vì địa điểm nhận tiếp tế của anh nằm trong Vịnh Hạ Long đã bị lộ. Thêm vào đó, vùng biển Hải Phòng bị Mỹ gài mìn khiến mọi cố gắng tiếp tế bằng thuyền cho anh đều không thể thực hiện được.
Khoảng giữa năm 1968, do lời yêu cầu của phía VN, Hoa Kỳ đã tìm được kế hoạch tiếp tế cho Ares. Trung ương báo ngay cho anh tọa độ một số bãi thả tiếp tế và yêu cầu toán đến tận nơi nghiên cứu và báo ngay địa điểm ưu tiên được chọn. Sau khi nhận phúc đáp, Trung ương đã hướng dẫn các chi tiết mà toán phải thi hành để có thể nhận tiếp tế đúng như dự liệu.
Đến ngày N, giờ G, một đoàn phản lực đã xuất hiện bắn phá một số mục tiêu ở Hải Phòng, cùng lúc đó một phản lực cơ khác đã bắn một thùng "container" đựng hàng tiếp tế xuống thửa ruộng đã ấn định và được Ares đánh dấu bằng 2 cụm khói trắng như đã chỉ thị. Cách tiếp tế này đã được thực tập 2 lần tại trại Long Thành và cả 2 lần đều đem lại kết quả mong muốn. Trong container đựng hàng tiếp tế, ngoài lương thực, thuốc men, áo quần còn có 10 khâu vàng để toán trao đổi thực phẩm hoặc thuốc men mỗi khi cần đến. Ngoài các vật dụng trên, còn có 4 lá thơ, trong đó có một lá thơ thăm hỏi của Trưởng công tác, còn 3 lá thơ khác được dán bì kín. Toán được chỉ thị dán tem vào và tuần tự gởi đến một địa chỉ trung gian tại Thái Lan. Mỗi lá thơ đều có dấu hiệu riêng mà toán không được biết lý do.
Chỉ trong một thời gian ngắn, 2 thơ có nội dung thường đã đến tay người nhận, thơ còn nguyên si không bị mở, nhưng lá thơ thứ 3 có "gài" một tài liệu bí mật giả tạo lại không đến tay người nhận. 2 tháng sau, khi dược Trung ương hỏi về lá thơ này thì toán cho biết, trên đường di tới bưu điện, bị còi báo động, đương sự phải chạy tìm hầm trú ẩn, không may đánh rơi lá thơ xuống vũng bùn nên đương sự đã không gửi. Lý do này đã khiến bạn đồng minh Hoa Kỳ nghi ngờ lòng trung thành của Ares.
Nhiệm vụ mới
Đến năm 1968, sau đợt tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân, Nha Kỹ Thuật phải lãnh nhận thêm rất nhiều công tác ngoại biên với những toán mới được thành lập:
- Các toán STRATA là những toán quân nhân được huấn luyện thuần thục để thi hành những công tác đột kích hay phá hoại các căn cứ địch nằm trên lãnh thổ Bắc Việt.
- Các toán PICK-HILL là những toán người Miên gốc Việt hoạt động trong lãnh thổ Cam-bốt, có nhiệm vụ quan sát và phá hoại các căn cứ địa của VC nằm trên lãnh thổ nước láng giềng Cam-bốt.
- Các toán EARTH-ANGEL, còn được gọi là Đề Thám, là những toán được thành lập với thành phần tù binh bộ đội Bắc Việt hồi chánh. Các toán này hoạt động rất đắc lực, được trang bị như bộ đội chánh quy miền Bắc. Nhờ đó họ len lõi vào vùng địch khá dễ dàng và đã nhiều phen lập được nhiều thành tích đáng kể. Một số toán viên sau đó đã gia nhập Quân đội VNCH.
- Các toán SINGLETON hoạt động riêng biệt từng cá nhân. Họ là những Việt kiều từng sống nhiều năm tại Cam-bốt, được móc nối trở lại hoạt động nằm vùng tại Mimote, Krek, Sihanoukville, Kratié, Ba Thu, v.v... Đây là những nơi địch đặt căn cứ quân sự và hoạt động rất mạnh. Các nhân viên này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo hoạt động địch và hướng dẫn phi cơ oanh tạc lúc cần thiết.
Ngoài các toán hoạt động như trên, còn có chương trình công tác lừa địch và ly gián địch, được gọi là chương trình Borden, mà toán viên là những tù binh bộ đội Bắc Việt cứng đầu. Họ được học nhảy dù vài hôm trước khi được trang bị như một toán viên rất trung thành của miền Nam: một bản đồ, lệnh hành quân, thơ giới thiệu, v.v... Các thứ này được giấu kín trong áo nhảy và chỉ được trao cho toán viên tù binh cứng đầu mặc vào trước khi được thả dù xuống vùng địch chiếm đóng.
Các chương trình mới này đã đem lại những kết quả hết sức khích lệ, nên phía Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN chấm dứt liên lạc với 5 toán còn lại ở miền Bắc, bằng cách ra lệnh cho các toán ấy tìm cách xâm nhập qua Lào, trình diện với bộ đội Vang Pao hoặc rút về miền Nam... Tuy nhiên, nhiều tháng sau khi lệnh được ban hành, không một toán nào xuất hiện.
Hướng về những người anh em kiêu hùng
Các Biệt Kích Dù bị CS bắt đã phải chịu đủ thứ cực hình. Tuy vậy, họ vẫn giữ vững tinh thần quốc gia và đồng đội. Thái độ cương quyết của họ đã phải làm các cán bộ CS khâm phục và gọi họ là những người "không cải tạo được". Mãi đến một thời gian lâu sau khi VNCH bị chiếm đóng, CS mới tuần tự tạm trả tự do cho các tù nhân Biệt Kích. Người được trả sớm nhất đã phải ở tù suốt 15 năm và người lâu nhất trên 20 năm. Khi họ trở về, chúng ta đã biết thêm được nhiều chuyện đã xảy ra khi họ công tác tại Bắc Việt. Tuy nhiên, vẫn còn một số toán bặt tin, trong đó có toán VOI do anh Trần Hiếu Hòa làm trưởng toán cùng với 4 toán viên. Toán Ares mà tôi đã đề cập ở trên và một vài toán khác nữa, cũng đang nằm trong danh sách những toán mất tích này. Phải chăng họ đã bị thủ tiêu hay đã hy sinh trên đường thi hành nhiệm vụ. "Hy sinh trong bóng tối, tất cả vì Tổ quốc", đó là phương châm hành động mà mọi Biệt Kích đã chấp nhận khi gia nhập vào binh chủng này.
Tôi còn nhớ năm 1970, các sĩ quan trong Bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật đã được xem một cuốn phim mà một đơn vị VNCH vừa tịch thu được của bộ đội Bắc Việt khi tấn công vào một căn cứ địch ở Mimot, Cam-bốt. Cuốn phim ghi lại phiên tòa xét xử một toán Biệt Kích mang tên toán Jackson, hoạt dộng tại vùng Nghệ Tĩnh. Bản cáo trạng rất dài, luận tội rất nặng, nào là tay sai đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm, nào là xúi dục nhân dân lật đổ chính quyền vàphá hoại tài sản nhân dân, v.v...
Toán Jackson đã bị bắt toàn bộ với tất cả vũ khí và chất nổ khi toán phá chiếc cầu thứ 2 tại Cửa Lò. Hầu hết toán viên đã lãnh án tử hình, chỉ 1-2 người lãnh án chung thân.
Điều làm anh em chúng tôi xúc động và hãnh diện, là được chứng kiến thái độ hiên ngang và bình tĩnh của các toán viên khi bản án tử hình được tuyên đọc. Theo lời một nhân chứng quê ở Thọ Ninh, bà con với một toán viên cho biết, 6 người lãnh bản án tử hình đã bị bắn ngay sau đó, và lời nói cuối cùng của họ là: "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Tổng Thống Ngô Đình Diệm muôn năm!"
Anh em chúng tôi là những người đã đi qua nhiều trại cải tạo ở miền Bắc và đã được nghe nói rất nhiều về những việc làm đáng phục của anh em Biệt Kích. Trong số đó có các vị linh mục, đại đức tuyên úy, các bạn bè của tôi đã sống chung trại với các anh ấy. Ngoài ra, các tù hình sự miền Băc mà đa số chúng tôi thường gọi họ bằng danh từ "bọn hình sự", vì phần đông họ thuộc thành phần bất hảo, trộm cướp, đâm chém, giết người... Khi được hỏi về anh em Biệt Kích thì họ tỏ vẻ rất khâm phục. Họ nói với tôi: "Các anh Bê Ka là những người rất hào hùng, cán bộ trại cũng phải nể, các anh ấy rất kỷ luật và đoàn kết với nhau, họ thương nhau và giúp đỡ nhau. Khi một người bị biệt giam được thả hay bị ốm, là các anh khác tìm cách giúp đỡ. Dù ai cũng đói, nhưng họ nhịn bớt phần ăn để bồi dưỡng cho anh em bị bệnh hay bị ốm. Đã có những anh Bê Ka cướp súng bắn cán bộ rồi chạy thoát, có nơi các anh toàn bộ đứng lên làm reo tuyệt thực không đi lao động, nhưng cán bộ trại cũng đành phải làm ngơ..."
Riêng cá nhân tôi, trong 13 năm cải tạo, đã không may mắn gặp lại các anh em Biệt Kích, nhưng tôi không bao giờ quên những con người hào hùng cùng chung lý tưởng đã cùng chung sống với nhau trong tình huynh đệ chân thành. Tôi là người đã từng sống chung với họ ở trại huấn luyện Long Thành và lúc họ lên đường đi công tác. tôi đã tiễn chân hoặc nhiều khi đã cùng với họ bay vào vùng mục tiêu xâm nhập, đưa tay vẫy chào họ khi họ rời máy bay... Những kỷ niệm đó khó quên được.
Những kỷ niệm khó quên
Tôi nhớ lại năm xưa, có lần trước ngày lên đường công tác, tôi lái xe đưa một nhân viên của tôi đến thăm lần cuối người bạn gái, hay nói đúng hơn, một người yêu, có nhà ở hẻm xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng, nay đổi tên là Lê Văn Sỹ. Đến nơi, người thanh niên ấy vội vã bước xuống xe như muốn tận dụng những giây phút ngắn ngủi và quý báu còn lại... Khoảng 10 phút sau, anh trở ra với người bạn gái đi theo tiễn chân, trên tay anh còn mang một gói quà nhỏ mà tôi đoán chắc đó là quà kỷ niệm của người yêu. Họ nhìn nhau, mắt đẫm lệ, và tôi chỉ biết im lặng cảm thông nỗi buồn chan chứa đang xâm chiếm 2 tâm hồn...
Xe chạy được một quãng đường, người thanh niên ấy quay nhìn tôi, vừa nói vừa mở món quà: "Đây, anh xem, quà cô ấy tặng em".
Tôi liếc nhìn, thấy một nắm tóc thề được gói trong một chiếc áo lót. Cả hai chúng tôi đều im lặng trên đường về trại.
Lần khác, một nhân viên của tôi cũng sắp lên đường, anh đến gặp tôi và trao cho tôi một chồng thơ khá dày đã đề bì sẵn và nói: "Anh Dũng, anh biết em là con một, em đi nhưng em đã không dám nói thật với mẹ em. Vì vậy, em nhờ anh mỗi tháng đến thăm mẹ em và trao cho mẹ em một bức thơ này, nói là em đang đi học ở ngoại quốc gửi về để mẹ em yên tâm".
Tôi xúc động nhìn người thanh niên ấy với tất cả lòng yêu thương và mến phục. Tôi đã nhận thơ anh giao và hàng tháng, tôi đã đến thăm mẹ em và trao cho bà quả phụ ấy bức thư của con bà... Nhưng đau đớn thay, lá thơ cuối cùng của anh đã được trao mà "khóa học" của anh vẫn chưa mãn.
Hai nhân viên Biệt Kích mà tôi vừa kể trên đây, cả 2 đều trở về từ cõi chết, sau gần 20 năm sống trong lao tù CS, một anh hiện đang sống ở Cali, đó là anh Lâm, em ruột của anh Nguyễn Ngọc Trâm, còn người kia, trước ngày tôi rời Saigon, anh ấy đang vất vả hành nghề thợ mộc ngoài Vũng Tàu. Hy vọng một ngày không xa, anh Độ cũng như bao nhiêu anh hùng Biệt Kích khác còn ở VN sẽ được đoàn tụ với chúng ta tại quê hương thứ hai này.
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
(Nam Úc Tuần Báo)
Anh Đi Chiến Dịch
Anh đi chiến dịch xa vời, lòng súng nhân đạo cứu người lầm than.
Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy.
Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy anh đi.
Không quên lời xưa đã ước thề, dâng cả đời trai với sa trường.
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề, nào ai ngại gì vì gió sương.
Hôm nay ruộng đồng trong chiến dịch, kìa sáu chốn miền Đồng Nai lên niềm tin.
Nghe như lúa reo đời sống lành, nghe như đất vui nhịp quân hành.
Anh đi chắc hẳn anh còn nhớ, đôi mắt u uẩn chiều tiễn đưa.
Của người em nhỏ thơ ngây quá, chưa biết cười lên hẹn đợi chờ.
Có những chiều mưa phơn phớt lạnh, đem cả hồn Thu tới lòng người.
Bao nhiêu chàng trai tay xiết mạnh, thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi.
Im nghe từ đồng hoang phố phường, còn mênh mang một niềm thương như trùng dương.
Phạm Đình Chương
ngay09
07-24-2007, 11:50 PM
Sinh Vi Tướng - Tử Vi Thần
Ông Lê Ngọc Danh, cựu Trung Úy QLVNCH, là Tùy Viên Tư Lệnh QÐIV-QK4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông là người đã trực tiếp chứng kiến cảnh cả hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó tự sát. Sau đây là chuyện ông kể trong "Hồi Ký Của Một Tuỳ Viên", trích từ sách "Nguyễn Khoa Nam".
Tháng 4 năm 1975
Tình hình chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, Vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn. Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Ðộc Lập gặp Tổng Thống, lúc ở dinh phó tổng thống. Thời gian còn lại, Tư Lệnh thường đến các Tiểu Khu và Sư Đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Ðịnh Tường và Long An. Sư Ðoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Ðịnh Tường còn Sư Ðoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư Lệnh đến tiểu khu Long An để biết tình hình địch, VC đã pháo rớt một quả hỏa tiển 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì. Ðịch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư Lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.
Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiển 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và tư dinh Tư Lệnh. Vị trí pháo hướng đông chi khu Bình Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư Lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.
Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân Đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Ðéc. Trong lúc này, Tư Lệnh rối bời lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu Tướng ra lệnh các Tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư Lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân đoàn IV và nhất là giữ quốc lộ 4 đừng dd" VC cắt đứt. Tư lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Ðốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu Khu và Sư Đoàn. Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.
Sáng ngày 24 tháng 4, Tư Lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rõ. Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường, có tướng Trường tham dự. Ngày 27 tháng 4, Tư Lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí. Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn phòng Tư Lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rõ. Ngày 29, Tư Lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao sao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Hòa Bình, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.
Áp lực địch vẫn nặng ở quốc lộ 4, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp Tư Lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư Lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ. Tư Lệnh viết Nhật Lệnh đưa Thiếu Tá Ðức, Chánh Văn Phòng chuyển đến phòng Chiến Tranh Chính Trị để đọc trên đài phát thanh và truyền hình để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư Lệnh và kèm theo là Nhật Lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động còn việc tử thủ không được đọc trên đài truyền hình. Sau khi thấy đọc, Tư Lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh. Sau đó, tướng Hưng, Tư Lệnh Phó vào gặp Tư Lệnh (nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông Cáo đã bị sửa lại, không chính xác như lời Tư Lệnh đã viết.
Ðêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vỉnh Bình. Ðịch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, tiểu khu trưởng tiểu khu Vỉnh Bình để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.
Sáng sớm 30 tháng 4, Tư Lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Ðịnh Tường. Cuộc họp nhanh và xong bay về Cần Thơ. Trở lại Quân Đoàn, nói rõ về phòng làm việc của Tư Lệnh, phòng làm việc chia hai tầng. Tầng trên có sẵn từ trước, thêm tầng dưới là hầm dưới chân phòng làm việc chính thức. Ở hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư Lệnh. Hầm làm việc này mới được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.
Tình hình sáng 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng thưa thớt đi lại, xe cộ hạn chế. Về tinh thần binh sĩ vẫn hăng say chiến đấu, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh.
Vào 10 giờ sáng, tôi được báo cáo là Thiếu Tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi cùng với Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ trình sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh đang ngồi và viết ở bàn làm việc. Tư Lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:
- Có gì không?
-Trình Thiếu Tướng, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng và Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.
Tư lệnh điềm nhiên không giận và nói:
- Ði hả! Ði làm chi vậy.
Nói xong, Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tỉnh không la không buồn. Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở radio 24/24 đi theo dõi tình hình ở Sài Gòn.
Tư Lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:
- Gọi Đại Tá Thiên gặp tôi.
- Dạ.
Ðại Tá Thiên mới nhận chức vụ Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh kể từ sáng ngày 30 tháng 4.
Bất chợt, tiếng của Tổng Thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:
- Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư lệnh và nói:
- Tổng Thống Dương Văn Minh đã .....
Tôi nói chưa hết câu, Tư Lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:
- Qua đã nghe rồi.
Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư Lệnh Phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư Lệnh. Qua điện thoại, Ðại Tá Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh, lần thứ hai, Ðại Tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.
Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư Lệnh đi thẳng vào phòng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư Lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư lệnh nhìn từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư lệnh xuống phòng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này không có nơi nhìn thấy Tư lệnh được. Tư lệnh bấm loa gọi tôi:
- Danh xuống đây tôi bảo.
Tôi vào phòng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư Lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư Lệnh nói:
- Danh tháo bỏ những ranh giới, những mủi tên trên bản đồ" (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ). Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mủi tên đỏ chĩa vào (Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rát, tháo xong tôi nói:
- Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.
- Ðược rồi.
Tư lệnh buồn buồn theo cầu thang lên phòng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư Lệnh và ra phòng làm việc của tôi. Ðộ 10 phút sau, Tư lệnh bấm loa gọi tiếp:
- Danh vào tôi bảo.
- Dạ.
Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư Lệnh nhìn tôi nói:
- Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này.
- Dạ.
Tôi đang lúi húi tháo và liếc nhìn, tôi thấy Tư Lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:
- Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.
Nói về phòng làm việc của Tư Lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào phòng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay phòng chờ đợi sát cổng Bộ Tư Lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào phòng làm việc của Tư Lệnh.
Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân Cảnh ở phòng chờ đợi (vọng gác 2) lên gặp tôi nói:
- Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư Lệnh. Tôi nói:
- Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư Lệnh.
Tôi gõ cửa vào gặp Tư Lệnh và nói:
- Trình Thiếu tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu Tướng.
- Ðược, mời họ vào.
Tôi xuống phòng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư Lệnh. Tư Lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR15 lên đạn và bước nhanh vào phòng làm việc Tư Lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này với tư thế sẵn sàng cách khoảng 4 thước, tôi sợ hai ông này ám sát Tư Lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư Lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư Lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:
- Danh đi ra ngoài đi tôi nói chuyện.
Tôi ấp úng trả lời:
- Dạ ... em ở đây với Thiếu Tướng.
- Ðược rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.
- Dạ
Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nhìn về hướng theo kẻ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư Lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả. Hai người đứng dậy giả từ. Tư Lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.
Tư lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư Lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, bây giờ còn đi ngoại quốc được không? Còn máy bay không? Hay là Thiếu Tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đã vây chặt trong tôi.
Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Ðoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.
Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói: Tôi Trung Úy Danh, Tùy Viên Tư Lệnh, xin lổi ai đầu dây? Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Ðàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:
- A lô ai đó? A lô ai đó?
Và tiếng lạ tôi không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. Còn đường dây Hotline trực tiếp của Tư Lệnh tôi không rõ. Như vậy VC đã vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua phòng Tư Lệnh Phó gặp Trung Úy Nghĩa, Tùy Viên Tư Lệnh Phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói tình trạng điện thoại đã bị VC chiếm và tôi đã nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó muốn nói chuyện với nhau mình phải dùng máy PRC25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để xử dụng máy PRC25 và đánh số thứ tự A, B, C, D ... để Tư Lệnh nói chuyện kín hơn.
Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư Lệnh sữa soạn về tư dinh, Thiếu tướng nói với tôi:
- Danh chuẩn bị xe đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.
- Dạ.
Xe chở Tư Lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện. Tư Lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư Lệnh đến bên thương binh này hỏi:
- Em tên gì?
- Dạ em tên ...
- Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?
- Dạ khỏe, em là Ðịa Phương Quân ở tiểu khu Vỉnh Bình.
Tư Lệnh nói tiếp:
- Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.
Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi quạ Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
- Vết thương của em đã lành chưa?
- Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu chưa lành.
Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư Lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:
- Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu Tướng.
- Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương. Tư lệnh nén đau thương, người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
- Em cố gắng điều trị .... có qua ở đây.
Tư lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư Lệnh dừng lại quay mắt nhìn lại bệnh viện. Tư Lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì cả, sự im lặng quá nặng nề, suốt trên đường về tư dinh, Tư Lệnh không nói một lời nào.
Về đến tư dinh, tôi thấy Quân Cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đã bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp Trung Sĩ Ngộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Ngộ, tôi nói:
- Anh Ngộ bắt một con gà làm và luộc để Thiếu Tướng dùng.
- Dạ con gà nào Trung úy?
- Ðàn gà nòi Thiếu Tướng nuôi anh chọn một con.
Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen ngịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Ngộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu Tướng vào ăn cơm. Tư Lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:
- Danh ngồi ăn cơm cho vui.
Ði các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư Lệnh, còn ở dinh Tư Lệnh thường ăn cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư Lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều gì, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư Lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, còn nước luộc gà làm canh, Tư Lệnh hỏi:
- Thịt gà đâu vậy?
Tôi gượng cười nói:
- Dạ mấy con gà Thiếu tướng nuôi ở sau, em bảo anh Ngộ làm một con để Thiếu Tướng dùng.
- Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn để nguội.
Tư Lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. Còn tôi thì no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:
- Dạ em ăn xong, Thiếu tướng dùng tiếp.
Thiếu Tướng nói:
- Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt còn nhiều.
Vừa nói, Tư lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn gì nổi, bình thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như ăn cây mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu Tướng ra phòng làm việc. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đã bỏ đi, số còn lại một vài người đã mặc thường phục, một số vẫn còn mặc đồ lính. Còn hướng phòng Trung Úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, chắc có lẻ anh đã bỏ đi (nhà Trung Úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). Còn Trung Úy Việt cùng vợ 2 con vẫn còn ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư Lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:
- Có liên lạc với tướng Hưng không hè?
- Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi. Tôi nói tiếp:
- Dạ, Thiếu Tướng muốn nói chuyện với Tư lệnh phó?
- Qua muốn nói chuyện.
Tôi nói với Tư Lệnh:
- Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, Tùy Viên Tư Lệnh Phó một số tần số PRC25 để lúc cần Thiếu Tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.
Tôi nói tiếp:
- Ðể em đi lại dinh Tư Lệnh Phó nói mở máy PRC25 để Thiếu Tướng nói chuyện.
Tư lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh đến dinh Tư Lệnh Phó đối diện dinh Tỉnh Trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽphải vào dinh Tư Lệnh Phó thì thấy phía bên trái trước dinh tỉnh trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mủi súng chỉa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:
- VC đã vô tới rồi.
Tôi bảo tài xế:
- Quay trở lại đi không ổn rồi.
Tài xế lái nhanh về dinh Tư Lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em còn lại kéo khoảng 4-5 vòng kẻm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư Lệnh:
- Trình Tư lệnh, VC đã vào đến dinh Tỉnh Trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh Trưởng.
Tư Lệnh làm thinh không nói gì cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu Tướng:
- Em đi lần nữa, để Thiếu Tướng nói chuyện với Tư Lệnh Phó. Tư Lệnh nhỏ nhẹ nói:
- Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.
- Dạ không sao!
Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:
- Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.
Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Ngộ quản gia nói:
- Em vừa thấy anh Thông ra cổng. Anh đã bỏ đi rồi.
Bất chợt có một anh (tôi quên cấp bậc và tên):
- Trung úy cần gì em giúp.
- Anh muốn đến dinh Tư lệnh phó.
- Ðược rồi để em đưa ông thầy đi.
Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:
- Ði Honda tiện hơn Trung úy.
Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư lệnh phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.
Dinh Tư lệnh phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nhìn vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong xòe nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:
- Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.
Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời.
Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ mình bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:
- Anh ráng chờ tôi một chút.
Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi xòe ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:
- Tôi trung úy Danh đừng bắn, tôi Trung Úy Danh đừng bắn. Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuột xuống đất. Gặp tôi, anh Nghĩa vừa nói vừa khóc:
- Chuẩn tướng tự sát chết rồi Danh.
- Lúc nào?
- Mới đây, chắc có lẽ hồi nảy Danh nghe tiếng súng nổ.
Anh nói tiếp:
- Chuẩn Tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư Lệnh Phó vào đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.
Tôi đến cửa, thấy cửa phòng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư lệnh phó khóc, còn hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có gì xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:
- Thôi Danh đi về.
Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 gì nữa, chuẩn tướng đã chết rồi. Tôi tình hình rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: Tại sao Tư lệnh phó tự sát? Nếu Tư lệnh hay được thì ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn tướng tự sát hay là ... tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc nãy. Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nhìn quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đã giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Hòa Bình đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai vãng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bải đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió (giấy tờ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ dân hôi của vất ra đường từ hôm trước).
Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng vòng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để trình Tư Lệnh sự việc đã xảy ra, vừa thấy Tư Lệnh tôi vội vả nói:
- Trình Thiếu tướng em đến dinh Tư Lệnh Phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư Lệnh Phó đã bắn vào ngực.
- Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?
Tư lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư Lệnh Phó đã tự sát, chắc Tư Lệnh sẽ tự sát theo.Tôi xuống nhà gặp Trung Úy Việt và nói Tư Lệnh Phó đã tự sát còn Thiếu Tướng không biết thế nào? Hai đứa tôi không tìm ra câu trả lời.
Lúc này khoảng 11 giờ đêm, cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mổi lần vào liếc nhìn, tôi thấy Tư Lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn còn mang. Lần khác vào, Tư Lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:
- Có gì không?
- Em vào xem Thiếu Tướng có sai bảo gì không?
Tư lệnh nói:
- Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.
Tôi nhỏ nhẹ nói:
- Trình Thiếu Tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu Tướng?
- Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.
Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư Lệnh ra phòng làm việc tôi đưa một gói hình chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:
- Danh cất tiền này dành để xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu Tướng không dùng để dành).
Xong Tư Lệnh đi vào trailer, tôi hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, tôi sợ Tư Lệnh tự sát.
Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư Lệnh ra gặp tôi nói:
- Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à?
- Dạ em ngủ không được.
Tư Lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:
- Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.
Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nảy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Ngộ, Thiếu Tướng đã cho tôi súng, không hiểu Tư Lệnh có ý định gì?
Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:
Tôi nghe và thấy những việc trên cỏi lòng xe lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua phòng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn mình ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa luới chắn ruồi trước khi vào phòng làm việc). Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào phòng (một người tay không, một người mang khẩu P-38, một người mang khẩu Carbin). Số còn lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khact, trung sĩ Ngộ từ phòng Thiếu tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:
- Thiếu tướng bảo Trung úy lấy thuốc lá hút.
Có cớ vào gặp Tư lệnh, người mang AK bỏ thỏng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hãi nó đàng sau bắn tới. Vô sự thế là thoát nạn, vào phòng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu tướng một điếu, 3 người mổi người một điếu (Tư lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc Capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư lệnh, người mang khẩu P-38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mủi súng hướng về phía Tư lệnh, còn người mang khẩu carbin đứng ngay cửa phòng tư thế tác chiến.
Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ý đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào phòng thấy Tư lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nhìn trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu tướng còn cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lổ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay ký tên gì cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư lệnh nằm yên, chắc Tư lệnh đã mệt. Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào phòng Tư lệnh lần nữa, thấy Tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức vì trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra phòng làm việc ngã lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.
Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông "boong, boong, boong", tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư lệnh đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng mình xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu tướng. Thiếu tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:
- Ðêm qua, Danh ngủ được không?
- Mệt quá em nằm nghỉ một chút.
Tư lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi phòng thờ Phật, tôi đi sang qua phòng làm việc. Một lúc sau, Tư lệnh đến bên tôi hỏi:
- Gặp tướng Trường được không hè?
Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.
- Dạ ... dạ. Tôi ấp úng trả lời. Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.
Tư lệnh hỏi tiếp:
- Có phải Trường không?
- Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống tướng Trường.
- Thôi đừng đi tìm, kẻo bị chúng bắt.
- Dạ.
Rồi Tư lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào phòng thờ Phật. Tư lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, còn trung úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư lệnh buồn buồn nói:
- Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.
Tư lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm gì, hình như cổ ông nghẹn lại. Tư lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư lệnh quay lại nói tiếp:
- À, quên chìa khóa. Rồi Tư lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai chìa khóa và nói:
- Cái này của Danh, cái này của Việt.
Tôi linh tính sắp có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu tướng bật khóc. Tướng cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, những giọt nước mắt cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy. Tôi nghĩ Tư lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư lệnh không? Nếu sự việc xảy ra thì phải giải quyết làm sao?Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.
Tư lệnh sắp tự sát
Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm thăm vợ con, còn trung sĩ Ngộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông "boong, boong, boong" xong xá 3 xá tiếp, xong Tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì sắp xảy ra. Bất chợt , Tư lệnh xoay qua bảo tôi:
- Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.
- Dạ.
Tôi tôi thầm nghĩ Tư lệnh và tôi độc thân chắc Tư lệnh nghĩ cách khác.
Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ "đùng" phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước trung sĩ Ngộ thất thanh chạy la lên:
- Ðại úy ơi! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát chết rồi.
Trong lúc sợ hãi, anh Ngộ gọi tôi là Ðại úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hải hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngã ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 vẫn còn trong tay buông thỏng xuống lòng Tư lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nhìn lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng "khọc, khọc, khọc" từng chập và từ từ nhỏ dần. Anh Ngộ thấy vậy vội nói:
- Thôi mình chở Thiếu tướng đi bệnh viện.
Tôi và anh Ngộ ôm chầm lấy Thiếu tướng vừa khóc vừa nói:
- Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu tướng đã quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh qua ở lại với các em.
Anh Ngộ nói tiếp:
- Em đâu dám đến gần Thiếu tướng. Ðứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu tướng. Em thấy Thiếu tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu tướng nổ súng liền em chạy lại đâu kịp.
Vừa nói anh Ngộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.
Lê Ngọc Danh
Trong Những Ngày Đau Buồn Của Cả Nước Việt Nam, Xin Phép Được Góp Lời Cầu Nguyện Cho Quý Vị Tướng Lảnh Và Quân Nhân QL VNCH Đã Đem Thân Mình Ra Chống Đở Làn Sóng Hung Tàn Và Đã Hy Sinh Cùng Với Tổ Quốc Việt Nam.
Có Những Cái Chết Đã Làm Cho Quý Vị Trở Thành Anh Hùng Bất Tử.
Tổ Quốc Trên Hết .
Tổ Quốc Còn , Tất Cả Còn.
Tổ Quốc Mất , Mất Tất Cả.
Xin Thành Tâm Cầu Nguyện.
************************************************** *********
Link hình:
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...my5&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=1iz3nnoqmy5&thumb=4)
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...d1x&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=dzmdiegbd1x&thumb=4)
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...lqx&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=6ymzmlgelqx&thumb=4)
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...rnu&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=1gx2tpyirnu&thumb=4)
http://www.mediafire.com/imageview.php?qui...ton&thumb=4 (http://www.mediafire.com/imageview.php?quickkey=0qimyd2oton&thumb=4)
ngay09
07-25-2007, 12:00 AM
Quân Sử:
TỐNG LÊ CHÂN, TIỀN ÐỒN QUÁ XA
Trần Ðỗ Cẩm
Email : camtran11@yahoo.com
(Trích Nguyệt San Ðoàn Kết, Austin Texas)
Trong lịch sử chiến tranh cận đại, có nhiều trận đánh lớn quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn, hoặc với tầm mức quan trọng "dứt điểm" như trận Normandie, Stalingrad, Okinawa, Iwo Jima v.v... Trong cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe nói tới những trận đụng độ ác liệt như trận Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, Pleiku v.v... So với những cuộc hành quân nổi tiếng kể trên, trận đánh tại Tống Lê Chân giữa một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân QLVNCH và quân Cộng Sản không những chỉ nhỏ bé về tầm vóc mà còn cả về mức độ quan trọng.
Trại Tống Lê Chân chẳng qua chỉ là một tiền đồn hẻo lánh gần biên giới Việt - Miên thuộc Vùng III Chiến Thuật có nhiệm vụ phát hiện sự xâm nhập của địch quân vào lãnh thổ VNCH. Tuy chỉ là một trận đánh nhỏ lại không mấy quan trọng, nhưng nếu kể về tinh thần chiến đấu can trường và sức chịu đựng phi thường của người lính chiến trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đã vượt trội và tạo nhiều thành tích có một không hai khiến trận đánh Tống Lê Chân trở thành có tầm vóc lịch sử, khác biệt và đáng chú ý hơn nhiều trận đánh lớn khác. Nhân dịp kỷ niệm ngày QLVNCH 19 tháng 6, chúng tôi tường thuật lại trận đánh oai hùng của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân qua những tài liệu thâu thập được để tôn vinh các chiến sĩ Cọp Rừng Mũ Nâu. Ðây cũng là dịp tri ân toàn thể QLVNCH đã đổ nhiều xương máu bảo vệ quê hương. Tác giả cũng hy vọng sẽ được tiếp xúc với các chiến sĩ đã có mặt hoặc liên quan đến trận Tống Lê Chân để có dịp sửa đổi và bổ túc thêm chi tiết giúp bài viết thêm chính xác.
Bối cảnh lịch sử
Trận đánh tại tiền đồn Tống Lê Chân trở nên sôi động vào một thời điểm hết sức đặc biệt, đó là lúc hiệp định ngưng bắn Paris vừa được ký kết vào đầu năm 1973, trên nguyên tắc chấm dứt cuộc chiến tranh giữa hai phe Quốc - Công tại Việt Nam. Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Trên thực tế, đây lại là trái hỏa mù để quân đội Hoa Kỳ nương theo đó mà giải kết "rút quân trong danh dự" nếu nói theo kiểu cặp bài trùng Kissinger & Nixon và để Bắc Việt mặc sức tung hoành xua quân đánh chiếm Miền Nam. Hoa Kỳ thỏa thuận rút quân trong vòng 60 ngày, trong khi bộ đội Bắc Việt được tự do ở lại và thao túng tại miền Nam vô thời hạn. Như vậy, người bạn đồng minh đã mở ngỏ cửa và bật đèn xanh, giúp Cộng quân thành công trong việc thôn tính miền Nam. Trong khi đó QLVNCH coi như bị bỏ rơi, bị bó tay nên lâm vào tình trạng kiệt quệ, một mình lại phải đương đầu không những với bộ đội Bắc Việt mà hầu như toàn khối Cộng Sản đang viện trợ những vũ khí tối tân cho quân xâm lăng.
Cộng Sản Bắc Việt đã vi phạm hiệp định ngưng bắn ngay khi vừa ký kết xong còn chưa ráo mực, có thể nói với sự gián tiếp đồng ý cũa người bạn Hoa Kỳ. Trong cuộc họp báo ngày 24 tháng 1 năm 1973, chính Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, người đã cùng tên đồ tể Lê Ðức Thọ của CS Bắc Việt ký "hòa ước" bức tử Miền Nam, đã không một chút ngượng ngùng khi tuyên bố:"Thỏa ước ngưng bắn không có điều khoản nào cho phép quân đội Bắc Việt có mặt tại Miền Nam. Bắc Việt cũng không đòi hỏi, nhưng chúng tôi ước lượng hiện có chừng 145,000 quân Bắc Việt đang tham chiến tại Miền Nam Việt Nam". Rõ ràng, Hoa Kỳ đã nhập nhằng ký kết hiệp ước bán đứng VNCH với mục đích duy nhất đóng của rút cầu, bỏ rơi Miền Nam khi không buộc CS Bắc Việt cũng phải rút quân về Bắc. Thực sự, lúc đó Bắc quân đã có đến 13 sư đoàn quân chính qui tại miền Nam với quân số tổng cộng gần 200,000 người. Ngoài ra, chúng còn có các đại đơn vị pháo binh diện địa và chiến xa yểm trợ cùng các kho quân lương, vũ khí tại Lào và Cam Bốt được coi là an toàn khu. Tại khu vực đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào, các xe vận tải của Cộng Quân công khai ồ ạt chở súng ống, đạn được và binh sĩ vào xâm lăng Miền Nam vì không còn bị oanh tạc như trước.
Vì vậy, tình hình sau khi ngưng bắn hoàn toàn bất lợi cho QLVNCH. Các đại đơn vị không thể nào dành được thế chủ động để lùng và diệt địch trên chiến trường vì phải trải quân quá mỏng để trám vào những chỗ trống do quân đội Hoa Kỳ bỏ lại. Trong lúc đó, Cộng quân được tự do bổ xung quân số, tích lũy tiếp vận để tạo áp lực quân sự trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Tương Quan Lực Lượng
Riêng tại Vùng III Chiến Thuật, ba Sư Ðoàn Cộng Quân là các Công Trường 5, 7 và 9 lợi dủng an toàn khu tại vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt bên Cam Bốt thường vượt biên đánh phá dọc Quốc Lộ 13 từ Lộc Ninh đến Bến Cát nằm về phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Khi mạnh, địch tung lực lượng quấy phá; lúc yếu, chúng lại rút qua biên giới dưỡng quân để chờ cơ hội thuận tiện. Phía VNCH chỉ cố gắng phòng thủ trong tư thế thụ động vì không đủ lực lượng mở các cuộc hành quân vượt biên truy kích như trước kia vào năm 1970 khi quân đội Hoa Kỳ còn tham chiến. Ðể đối đần với 3 Sư Ðoàn Cộng quân, QLVNCH trong vùng này chỉ có Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đặt bản doanh tại Lai Khê do Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ làm Tư Lệnh.
Sau nhiều cuộc tấn công thăm dò, vào đầu tháng 4 năm 1973, Công Trường 7 Cộng quân tấn công và tràn ngập căn cứ Chí Linh trên Liên Tỉnh Lộ 13 gần quận lỵ Ðôn Luân vào ngày 10 tháng 4. Ðể mở rộng đường xâm nhập từ ngả Cam Bốt, Cộng Quân cũng uy hiếp các trại Biệt Ðộng Quân Biên Phòng dọc theo biên giới như Bến Sỏi, Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Măp, Tống Lê Chân v.v... Trước áp lực quá mạnh của địch quân, Bộ Chỉ Huy BÐQ Quân Khu III phải lần lượt di tản hầu hết các vị trí chiến lược rất quan trọng dọc theo biên giới ngoại trừ trại Tống Lê Chân. Lý do vì toàn thể Tiểu Ðoàn 92 BÐQ đồn trú tại trại này đều tình nguyện ở lại chiến đấu. Trận đánh dài nhất trong quân sử khởi đầu và trang sử oai hùng nhất của Binh Chủng cũng được Tiểu Ðoàn 92 BÐQ viết từ giờ phút đó.
Tống Lê Chân? Ðịa Danh Xa Lạ Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Việt Nam ngoài mức độ khốc liệt, còn tạo ra những địa danh xa lạ. Nếu không có trận Tân Cảnh, Kon Tum, làm gì có những tên Charlie, Delta? Nếu không có trận Hạ Lào chắc cũng chẳng có LoLo, Sophia, BÐQ Bắc, BÐQ Nam v.v... Tống Lê Chân cũng là một tên rất lạ. Dân địa phương người Miên gọi vùng này là Tonlé Tchombe. Tonlé tiếng Miên có nghĩa là sông, hồ, suối hoặc nơi nào có nước. Thí dụ như Biển Hồ có tên Miên là Tonlé Sap. Khi mới thành lập, trại này chưa có tên nên Thiếu tá Ðặng Hưng Long, vị chỉ huy trưỏng đầu tiên phiên âm tiếng Miên Tonlé Tchombe thành tiếng Việt Tống Lê Chân. Sau này, phần đông các quân nhân trong binh chủng BÐQ biên phòng gọi tắt là Tống Lệ để ám chỉ một căn cứ đầy máu và nước mắt, không có một ngày yên vui kể từ khi ra đời.
Tiền đồn Tống Lê Chân nguyên thủy là một trại Dân Sự Chiến Ðấu (DSCÐ) (Civilian Irregular Defense Group gọi tắt là CIDG) do Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ thành lập từ năm 1967 để phát hiện và ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân từ bên kia biên giới. Ðến năm 1970 trong chương trình cải biến Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, phần đông những binh sĩ của trại Tống Lê Chân thuộc sắc dân ngưởi thượng Stieng đều tình nguyện ở lại để trở thành Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng, tổng cộng gồm 292 binh sĩ lúc khởi đầu, chưa kể một số sĩ quan QLVNCH giữ các chức vụ chỉ huy.
Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu
Vì Tiểu Ðoàn 92 BÐQ thoát thai từ Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu, tưởng cũng nên biết qua về tổ chức đặc biệt ít người biết tới này.
Chương trình DSCÐ được đặt dưới sự quản trị trực tiếp của Toán 5 Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ (5th Special Forces Group) đặt bản doanh tại Nha Trang. Mục tiêu của chương trình là dùng các sắc tộc thiểu số (người Thượng) để thành lập các "trung tâm" (làng, buôn) chiến lược có võ trang tại các vùng rừng núi khiến Việt Cộng không thể xâm nhập và lợi dụng. Việc tổ chức, quản trị và huấn luyện những trung tâm hay "trại" này đều do LLÐB Hoa Kỳ đảm nhận. Thí điểm đầu tiên đuợc thành lập tại Buôn Enao thuộc tỉnh Ðắc Lắc vào năm 1961. Tới năm 1965 đã có khoảng 80 trung tâm được thành lập tại những vùng rừng núi hẻo lánh khó kiểm soát. Mỗi trung tâm là một "pháo đài" có thể tự phòng thủ và có khả năng ngăn chận mọi xâm nhập từ bên ngoài.
Ðến năm 1965, cùng với việc Hoa Kỳ đưa quân ồ ạt vào Việt Nam, chương trình DSCÐ cũng được bành trướng mạnh. Các trung tâm phòng thủ được cải tiến thành những trại lực lượng đặc biệt, trang bị vũ khí tối tân với nhiệm vụ không những chỉ để tự vệ mà còn có khả năng tấn công. Từ đó, các toán viễn thám dò tìm địch quân mang biệt danh Delta, Omega và Sigma ra đời. Nhiệm vụ chính cũa những toán này là xâm nhập sâu vào đất địch để phát hiện địch và thu thập tin tức tình báo.
Tới khoảng cuối năm 1967, toàn lãnh thổ VNCH tổng cộng có khoảng gần 100 trại LLÐB, đa số nằm dọc theo biên giới Lào - Việt và Miên - Việt. Vì địa thế chiến lược rất quan trọng của những trại biên phòng này, Cộng Quân luôn luôn dùng đủ mọi cách để tiêu diệt. Nhiều trận đánh dữ dội đã xảy ra tại các trại như: Lang Vei, Thường Ðức, Khâm Ðức ... tại Vùng I Chiến Thuật; Ðức Cơ, Plei Me, Plei Djereng, Plateau Gi, Ðồng Xoài ... tại Vùng II; Bến Sỏi, Tống Lê Chân, Trảng Sụp, Chí Linh ... tại Vùng III và Cái Cái, Thường Thới, Tịnh Biên ... tại Vùng IV.
Cho tới năm 1970, Hoa Kỳ chuẩn bị rút quân, khởi đầu giai đoạn Việt Nam hóa chiến tranh nên các trại LLÐB cũng lần lượt được chuyển giao cho QLVNCH. Lực Lượng DSCÐ theo kế hoạch được sát nhập vào binh chủng Biệt Ðộng Quân để trở thành những đơn vị BÐQ Biên Phòng. Vì mỗi trại LLÐB thường có vào khoảng từ 300 đến 400 người nên được biến cải thành một Tiểu Ðoàn BÐQ Biên Phòng. Trong khoảng thời gian từ ngày 27 tháng 8 năm 1970 cho đến 15 tháng 1 năm 1971, tổng cộng có tất cả 49 trại LLÐB được biến cải thành các TÐ BÐQ Biên Phòng. Nếu tính theo từng Vùng Chiến Thuật, con số này được phân chia như sau:
- Vùng I: có 11 trại.
- Vùng I I: có 15 trại.
- Vùng III: có 12 trại.
- Vùng IV: có 11 trại.
Tuy trước đây có chừng 100 trại LLÐB, nhưng chỉ chuyển giao có 49 trại vì có một số trại bị đóng cửa, quân số được bổ xung cho những đơn vị còn lại. Sau khi được chuyển giao, những dân sự chiến đấu trong các trại LLÐB không còn là dân sự do Hoa Kỳ tuyển mộ, mà chính thức trở thành quân nhân trong QLVNCH.
Trại Tống Lê Chân thuộc Vùng III Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1967 cùng với trại Prek Klok tại vùng Chiến Khu C của Việt Cộng. Vì chận ngay yết hầu nên ngay từ khi thành lập, các trại này đã bị địch quân đe dọa thường xuyên. Trong hệ thống LLÐB, trại Tống Lê Chân mang ám danh A-334 và được biến cải thành trại BÐQ Biên Phòng vào ngày 30 tháng 11 năm 1970. Toàn thể quân số trong trại lúc đó có 318 người (gồm 292 người nguyên thuộc DSCÐ và các sĩ quan cùng Hạ Sĩ Quan QLVNCH mới được bổ nhiệm tới để chỉ huy) trở thành TÐ 92 BÐQ Biên Phòng thuộc hệ thống chỉ huy của BÐQ/QLVNCH.
Tiền Ðồn Cô Ðơn ( Xem : Phóng đồ trận đánh tại Tống Lê Chân )
Trại Tống Lê Chân trấn giữ một địa điểm quan yếu, chận ngay đường vào khu Tam Giác Sắt và án ngữ vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu thuộc Cam Bốt. Ðây là những an toàn khu và cũng là đại bản doanh Cục R của Việt Cộng như hai mũi dao nhọn chĩa vào cạnh sườn Quân Khu III. Trong các trận hành quân vượt biên của Quân Ðoàn III do Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy vào năm 1970, trại Tống Lê Chân đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát hiện và diệt địch. Căn cứ được thiết lập trên một ngọn đồi cao chừng 50 thước, trông xuống hai con suối nhỏ dân địa phương gọi là Takon và Neron. Ðây là những lạch nước khởi nguồn của sông Sài Gòn chảy qua Dầu Tiếng, Bến Súc, Phú Cường v.v.... Tống Lê Chân, như trên đã nói là một trong chuỗi trại Dân Sự Chiến Ðấu do LLÐB thiết lập dọc theo biên giới Miên - Việt thuộc lãnh thổ Quân Khu III.
Về vị trí, trại Tống Lê Chân nằm trong vùng ranh giới của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, cách An Lộc chừng 15 cây số về hướng Tây Nam và mũi nhọn của chiếc Mỏ Vẹt chứng 13 cây số về hướng Ðông Nam. Dưới chân căn cứ là con đường 246 nối liền Chiến Khu C và Chiến Khu D của Việt Cộng. Ðây cũng là trục giao liên Nam - Bắc huyết mạch nối liền bản doanh của Cục R bên Cam Bốt và vùng Dầu Tiếng với Khu Tam Giác Sắt của Cộng Quân.
Với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng có thể kiểm soát được các trục giao liên Nam - Bắc và Ðông - Tây của Cộng Quân tại vùng biên giới, lại trấn giữ sườn Tây cho thị trấn An Lộc, Tống Lê Chân như chiếc gai nhọn cần phải nhổ bằng mọi giá trên sa bàn trận liệt của địch. Vào mùa hè năm 1972, cùng với các trận cường tập có pháo binh và chiến xa nặng của Công quân vào vùng Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc, các căn cứ biên phòng lân cận Tống Lê Chân như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập đã phải di tản. Tống Lê Chân chơ vơ còn lại như một hải đảo cô đơn giữa biển người Cộng Quân trùng điệp.
Tứ Bề Thọ Ðịch
Nhằm mục đích mở rộng đường giao liên cũng như giữ bí mật các cuộc chuyển quân xâm nhập từ biên giới Miên - Việt vào lãnh thổ Quân Khu III, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Cộng quân dồn lực lượng đánh biển người vào căn cứ Tống Lê Chân quyết nhổ cái gai trước mắt. Quyết san bằng căn cứ, địch quân dùng đại pháo 130 ly cùng với đủ loại súng cối, sơn pháo bắn phủ đầu như mưa vào căn cứ theo đúng chiến thuật lấy thịt đè người "tiền pháo hậu xung". Trận pháo kích khốc liệt này chính thức mở đầu cho gần hai năm trời vây hãm. Sau loại pháo vòng cầu, nhiều đợt pháo cấp tập bắn thẳng vào Tống Lê Chân như muốn san bẳng căn cứ nhỏ bé nằm lẻ loi trên ngọn đồi. Trong khi đó, một rừng phòng không từ thượng liên đến cao xạ 37 ly, 57 ly và cả hỏa tiễn tầm nhiệt thuộc sư đoàn Pháo Phòng Không tân lập 377 khoá kín không phận khiến các phi cơ không thể nào tới gần để yểm trợ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, Tiểu Ðoàn độc lập 200 của Việt Cộng lãnh nhiệm vụ tấn công vào Tống Lê Chân với sự yểm trợc của các đơn vị bộ binh thuộc hai Công Trường 7 và 9.
Tuy bị bao vây và cô lập, các chiến sĩ Mũ Nâu thiện chiến của TÐ 92 BÐQ đã bình tĩnh bố trí trong các giao thông hào đào sâu trong lòng đất chờ địch ngay khi các quả đạn pháo kích đầu tiên rơi vào căn cứ. Một đơn vị đặc công địch theo sát những trái pháo mở đường đã xâm nhập được vòng đai phòng thủ bên ngoài. Những chiến xa hạng nặng T-54 của Cộng quân yểm trợ cũng nã đạn như mưa rất chính xác khiền tình hình có vẻ nguy kịch. Nhưng quân trú phòngvẫn không nao núng vì rất tin tưởng vào hệ thống bố phòng vững chãi và nhất là bãi mìn dầy đặc bao quanh căn cứ. Dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiện của Thiếu Tá TÐT Lê Văn Ngôn, các chiến sĩ BÐQ vẫn chưa khai hỏa. Họ chờ bộ binh chủ lực địch xung phong mới bắt đầu nổ súng. Quả nhiên, khi thấy không bị bắn trả, Cộng quân bắt đầu tràn vào căn cứ vì tưởng quân trú phòng đã bị chết hết hay mất tinh thần vì các đợt pháo kích ác kiệt cũng như vì chiến xa với đại bác 100 ly trực xạ. Ðúng lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu mới đồng loạt khai hỏa. Từng đợt "biển người" của Cộng quân bị bất ngờ nhưng vì đã tiến tới quá gần không kịp tìm nơi ẩn trú nên bị đốn ngã như rạ. Sau đợt tấn công đầu tiên bị thiệt hại nặng, địch lui ra để pháo binh tiếp tục nã vào căn cứ, sau đó bộ binh lại tấn công. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu quả, cuối cùng Cộng quân phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết phơi thây trên hàng rào phòng thủ.
Cũng trong thời gian này, các mặt trận lớn khác tại vùng Hỏa Tuyến, Tây Nguyên, An Lộc ... bùng lên dữ dội với những cuộc đụng độ đẫm máu của một Mùa Hè Ðỏ Lửa, trận đánh tại Tống Lê Chân tuy là một chiến thắng lớn của các chiến sĩ BÐQ nhưng không được nhiều người biết tới. Nhưng từ khi cuộc "thử lửa" ban đầu bị thất bại nặng nề, Cộng quân biết rằng không thể dễ dàng nuốt chửng Tống Lê Chân nên chúng chủ trương dùng chiến thuật tiêu hao, bao vây chặt chẽ và pháo kích thường xuyên với đặc công xâm nhập quấy phá. Chúng tin rằng chiến trường An Lộc lân cận có tầm mức quan trọng hơn và nếu đạt được chiến thắng, Tống Lê Chân không cần phải đánh cũng sẽ tự tan rã. Cuộc bao vây dài nhất trong quân sử bắt đầu ...
Cứ như vậy, tiền đồn Tống Lê Chân bị Cộng quân vây chặt. Ðịch pháo kích thường xuyên vào căn cứ, trong khi màng lưới phòng không dầy đặc cắt đứt nguồn tải thương và tiếp vận duy nhất bằng phi cơ. Thoạt tiên, các phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Việt Nam đã phải bay rất cao để thả dù tiếp tế khiến nhiều kiện hàng bay lạc ra ngoài, rơi vào tay Cộng quân. Theo lời kể lại của một hồi chánh viên, vào khoảng tháng 6-1973, Cộng quân đã tổ chức một đại đội có nhiệm vụ chuyên đi "lượm dù" để lấy đồ tiếp tế. Vì vậy, đã có dư luận từ các nguồi tin ngoại quốc cho rằng đôi bên đã ngầm thỏa thuận để các vận tải cơ được tự do thả dù mà không bị phòng không bắn lên, miễn là quân trú phòng không bắn vào toán Cộng quân lượm dù bên ngoài. Sau này, khi rút tỉa kinh ngiệm, KQVN đã hoàn chỉnh được kỹ thuật thả dù tiếp tế nên số lượng đồ tiếp vận thất thoát không còn dáng kể.
Riêng các phi cơ trực thăng, phương tiện duy nhất để tản thương hay chở quân tăng viện không thể nào bay lọt lưới phòng không dầy đặc của địch. Nhiều toán trực thăng đã liều lĩnh bay vào Tống Lê Chân chẳng những không đạt được nhiều thành công, lại bị thiệt hại khá nặng. Trong khoảng thời gian từ tháng 10-73 đến cuối tháng 1-74, có khoảng 20 phi vụ trực thăng nhằm tản thương và tiếp tế cho Tống Lê Chân, nhưng chỉ có 6 trực thăng hạ cánh được, trong số này có 3 chiếc bị bắn hư hại trên bãi đáp. Cuối tháng 12-73, một trực thăng Chinook CH-47 cũng bị bắn rơi khi hạ cánh. Ðây là chiếc trực thăng thứ 13 bị trúng đạn phòng không địch chỉ nội trong tháng 12/73. Thiệt hại về phía KQVN gồm 9 chết, 36 bị thương. Tới tháng 1-1974 tức là một năm sau khi ký kết hiệp định ngưng bắn, vẫn còn có 12 chiến sĩ BÐQ bị thương nặng vẫn chưa được tản thương khỏi căn cứ.
Ngưng Chiến Kiểu Việt Cộng
Tuy căn cứ Tống Lê Chân bị Cộng quân khởi sự tấn công vào tháng 5 năm 1972, nhưng bị vây hãm và tấn công dữ dội nhất vào lúc thỏa ước nhưng bắn được thi hành tại Việt Nam theo khuôn khổ hiệp định Paris. Ðây cũng là một điểm đặc biệt có một không hai trong cuộc chiến tại Việt Nam cũng như trong lịch sử chiến tranh thế giới: môt hiệp ước ngưng bắn bị vi phạm ngay sau khi vừa ký kết! Cộng quân, có lẽ đang cay cú vì thất bại chua cay không chiếm được An Lôc, nay cố chiếm một mảnh đất khỉ ho cò gáy gần biên giới Việt - Miên để có một chỗ cho Cục R ra mắt. Trong lúc toàn thể thế giới thở phài nhẹ nhỏm vì ngòi lửa chiến tranh tại Việt Nam có thể đưa đến hiểm họa chiến tranh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản không còn nữa, thì tại Tống Lê Chân, TÐ 92 BÐQ vẫn đơn độc ngày ngày hứng pháo và dành dựt với Cộng Quân từng thước đất để sống còn.
Tuy Cộng Quân trắng trợn và công khai vi phạm thỏa ước ngưng bắn, nhưng ngưới bạn đồng minh Hoa Kỳ của VNCH vẫn dửng dưng không hề có một lời phản đối dù lấy lệ, dường như còn say men rượu mừng vì đã tìm thấy "ánh sáng ở cuối đường hầm". Dĩ nhiên họ cũng chẳng có một phản ứng hay hành động tích cực nào thuận lợi cho VNCH. Ngay cả Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến cũng không can thiệp. Vì vậy, trước những vi phạm trắng trợn và lộ liễu của Cộng quân tại Tống Lê Chân, trong phiên họp ngày 17-3-73, trưởng phái đoàn VNCH là tướng Dư Quốc Ðống đã phải đặt vấn đề Tống Lê Chân lên bàn hội nghị với ba giải pháp như sau:
1. Cử một tổ Liên Hợp Quân Sự bốn bên đến Tống Lê Chân để điều tra tại chỗ các sự vi phạm.
2. Nếu phe CS phản đối, sẽ yêu cầu UB Kiểm Soát Ðình Chiến can thiệp.
3. Yêu cầu các đơn vị Cộng quân quanh Tống Lê Chân không được bắn lên phi cơ của UBQT.
Dĩ nhiên đề nghị hợp lý của phái đoàn VNCH bị phe Cộng Sản phản đối vì chính chúng là kẻ vi phạm. Trần Văn Trà, trung tướng trưởng phái đoàn MTGPMN cố ý vắng mặt để tên đạt tá Ðặng Văn Thu thay thế. Tên Thu một mặt vu khống chính VNCH mới là phe vi phạm ngưng bắn, một mặt tự coi là không đủ thẩm quyền quyết định nên yêu cầu mở một cuộc họp khác để bàn về Tống Lê Chân với sự hiện diện của Trần Văn Trà. Về các đề nghị thứ hai và thứ ba của phái đoàn VNCH, phe Cộng sản cũng "nhất trí" phản đối, ngoài ra còn dọa dẫm các thành viên trong UHQT rằng tình hình tại Tống Lê Chân "chưa rõ rệt" nên họ không bảo đảm an ninh cho phái đaòn cũng như phi cơ của Ủy Hội.
Tóm lại, cả phe Cộng sản trong UBLH và UHQT đều đồng thanh tránh né việc điều tra vi phạm ngưng bắn tại Tống Lê Chân, lúc thì chờ chỉ thượng cấp quyết định, khi lại không bảo đảm an ninh.
Ðến ngày 23-3-73 tức là chỉ còn 4 hôm nữa là hết hạn 60 ngày làm việc của UBLH bốn bên, phái đoàn Hoa Kỳ mới yêu cầu chiếu lệ Gia Nã Ðại là chủ tịch UBQT điều tra về vụ Tống Lê Chân. Phía Việt Cộng đưa tên đại tá một mắt Võ Ðông Giang ra thảo luận với đại tá Lomis của Gia Nã Ðại và thỏa thuận cử sĩ quan liên lạc của MTGPMN theo UHQT tới Tống Lê Chân vào ngày 24-3-73. Nhưng đó cũng chỉ là mánh lới tiểu xảo cố hữu của Cộng Sản: tới ngày hẹn, viên sĩ quan liên lạc này đã "trễ trực thăng" nên máy bay của UHQT không đi Tống Lê Chân được!
Như vậy, với sự tráo trở và lọc lừa cố ý của Cộng sản, việc điều tra tại Tống Lê Chân đã không bao giờ được thực hiện. Số phận của Tống Lê Chân đành phó thác cho định mệnh và TÐ 92 BÐQ phải tự chiến đấu một mình để sống còn.
Vòng Vây Xiết Chặt
Suốt năm 1973 kể từ ngày ngưng bắn, trong lúc Việt Cộng giở thủ đoạn hèn hạ tại bàn hội nghị, Tống Lê Chân bị bao vây chặt chẽ và bị tấn công hàng chục lần nhưng vị trí vẫn đứng vững như một khúc xương khó nuốt. Nhả ra không được vì bị Tống Lê Chân chận nghẹn ngay yết hầu, nuốt vào thì không xong vì các chiến sĩ Mũ Nâu rất kiên cường không chịu nhượng bộ một tấc đất, Cộng Quân chỉ còn cách bao vây "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Tuy phòng không địch dầy đặc bao quanh căn cứ nhưng phi cơ VNCH đôi khi vẫn liều lĩnh bay lọt qua màng lưới của tử thần để tản thương và tiếp tế. Việc tiếp tế cho Tống Lê Chân bằng dù khá hiệu quả, nhưng vì chu vi phòng thủ quá hẹp nên có một số đồ tiếp liệu bị lọt vào tay địch.
Qua năm 1974, trong khi các phái đoàn "Kiểm Soát" tranh luận dằng co, tình hình tại Tống Lê Chân ngày càng nguy ngập sau cả năm trời bị bao vây. Thời gian càng trôi qua, phần bất lợi càng nghiêng về phía quân trú phòng. Bị cả sư doàn địch quân phong tỏa chặt chẽ và bị tấn công thường xuyên, quân số BÐQ ngày càng hao hụt không được bổ xung. Lúc này, TÐ 92 BÐQ chỉ còn lại 255 người, trong số đó có nhiều thương binh. Việc tiếp tế lại không được đầy đủ vì phi cơ thả dù bị phòng không chận bắn. Về mặt tinh thần cũng sa sút phần nào vì bị vây hãm quá lâu ngày và áp lực liên miên . Tuy vậy, Tống Lê Chân vẫn còn đứng vững như một biểu tượng hùng hồn cho lòng quả cảm và sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ BÐQ.
Nhưng để giữ vững Tống Lê Chân, QLVNCH tính ra đã phải trả một giá quá đắt: sự thiệt hại về nhân mạng mỗi ngày một cao, việc dùng phi cơ để yểm trợ và thả dù tiếp tế đã trở thành một gánh quá nặng cho KQVN lúc đó phương tiện không còn được dồi dào như lúc Hoa Kỳ còn tham chiến. Hơn nữa, tuy Tống Lê Chân chiếm giữ một vị trí khá qun trọng nhưng vẫn chỉ là một tiền đồn nên giá trị quân sự không thể so sánh với các căn cứ chính cần phải bảo vệ khác, do đó không nhất thiết phải giữ bằng mọi giá. Vì không thể chia bớt lực lượng để yểm trợ Tống Lê Chân, đã đến lúc BTL/QÐ III phải có một quyết định dứt khoát để giải quyết vấn đề Tống Lê Chân để chấm dứt tình trạng bất lợi.
Do đó, vào ngày 23-3-73, tướng Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh QÐ III đề nghị với Bộ TTM/QLVNCH chọn một trongba giải pháp sau đây:
1. Mở một cuộc hành quân cấp sư đoàn từ An Lộc để giải tỏa áp lực, tăng cường, thay thế hay di tản TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân.
2. Cho phép thương lượng với Cộng quân, giao Tống Lê Chân cho chúng để đổi lấy sự di tản an toàn của các chiến sĩ Mũ Nâu trú phòng.
3. Cho lệnh TÐ 92 BÐQ được di tản khỏi căn cứ bằng những toán nhỏ để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.
Về giải pháp một, theo tình hình lúc đó, toàn bộ vùng Lai Khê, An Lộc chỉ có đơn độc một sư đoàn 5 chống giữ, hiện đang phải đương đầu với các Công Trường 5, 7 và 9 của Cộng quân. Vì vậy, ngay cả việc giữ an ninh trục lộ huyết mạch 13 cũng còn khó khăn, chưa đủ quân số, nói chi đến việc mở đường tới tận Tống Lê Chân để tăng viện? Hơn nữa, dù một sư đoàn có thể đảm đương trọng trách tiếp viện, nhưng kiếm đâu ra sư đoàn này trong lúc các đại đơn vị QLVNCH tuy đã phải phân tán rất mỏng nhưng cũng vẫn chưa đủ để trám vào những vùng quan trọng Hoa Kỳ vừa rút quân để lại?
Như vậy, giải pháp 1 coi như không thể thực hiện được. Nhưng nếu giải pháp 1 bất thành vì lý do quân sự thì giải pháp 2 cũng thiếu thực tế vì lý do chính trị. Nếu "bàn giao" Tống Lê Chân cho Cộng quân, hậu quả tai hại về chính trị sẽ không thể lường được. Quân và dân Miền Nam sẽ vô cùng hoang mang. Tổng Thống Thiệu sẽ rất khó ăn khó nói vì mới hô hào "dành dân chiếm đất" trước đây không lâu. Vả lại, nếu giao Tống Lê Chân cho Cộng Quân, việc này có thể sẽ trở thành tiền lệ đưa tới nhiều cuộc bàn giao kiểu Tống Lê Chân khác.
Do đó, tuy đề nghị ba giải pháp, nhưng tướng Thuần biết rỏ chỉ còn một con đường khả trợ duy nhất: đó là cho phép TÐ 92 BÐQ rút khỏi Tống Chân. Nhưng quyết định rút bỏ này không phải là không có hậu quả nghiêm trọng về quân sự cũng như chính trị. Hơn nữa, việc rút quân qua vòng vây trùng điệp của Cộng Quân cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì những lý do này mà BTL/QÐ III phải hội ý trước với Bộ TTM. Rất có thể, ngay Bộ TTM cũng không quyết định được, mà việc rút quân phải do chính Tổng Thống cho phép. T
rong khi chờ đợi quyết định dứt khoát từ trung ương, tình hình tại Tống Lê Chân trở nên hết sức căng thẳng và sôi động từng giờ, từ trầm trọng đến nguy kịch. Bị bao vây cả năm trời, thiếu lương thực, thiếu đạn dược, quân số hao hụt, thương binh ngày càng nhiều không được di tản, bị pháo liên miên, đặc công đánh phá ngày đêm ... khiến TÐ 92 BÐQ ngày càng suy yếu. Tuy nhiên, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn kiên cường giữ vững căn cứ bằng mọi giá. Và cuộc bao vây dài nhất trong quân sử vẫn tiếp tục.
Tử Thủ Ðến Cùng
Ðể giảm bớt phần nào áp lực vô cùng nặng nề của khoảng 3 Sư Ðoàn địch quanh Tống Lê Chân, vào ngày 23/7/74, phi cơ của Không Quân VNCH bay trên 30 phi vụ dội bom vào các vị trí Cộng Quân trên trận địa. Nhưng phòng không địch rất dầy đặc nên phi cơ qanh tạc không mấy hiệu quả. Ngoài ra, lực lượng địch quá đông nên chúng vẫn không chịu rút lui để tránh thiệt hại mà ngược lại còn gia tăng cường độ tấn công để sớm thanh toán mục tiêu.
Trong khoảng thời gian liên tiếp 3 ngày từ 22 đến 24/3/74, Cộng Quân dùng đủ loại đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng cối 82 ly v.v... nã hơn 1,000 quả đạn vào tiền đồn Tống Lê Chân nhỏ bé, nơi có khoảng 300 chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đang bị vây hãm. Tuy phi cơ được gọi đến oanh kích và thả trái sáng yểm trợ, nhưng hỏa lực phòng không vô cùng dữ dội của Sư Ðoàn Phòng Không 377 địch với các loại hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, đại bác 57 ly, 37 ly và thượng liên đã đan một màn lưới lửa đầy đặc quanh Tống Lê Chân khiến mọi hoạt động của phi cơ đều vô hìệu. Bên trong trại, các chiến sĩ Mũ Nâu chỉ còn cách co mình chịu pháo. Nhiều công sự phòng thủ cũng như vị trí chiến đấu bị hư hại vì cơn mưa pháo. Tuy nhiên, Trung Tá Lê Văn Ngôn, vị Tiểu Ðoàn Trưỏng, tuy mới có 25 tuổi nhưng dầy dạn kinh nhiệm chiến trường vẫn bình tĩnh đôn đốc và ra lệnh cho binh sĩ trực thuộc chuẩn bị phản công sau mỗi đợt pháo kích. Quả nhiên, liên tiếp trong 2 đêm 21 và 22/3/74, sau khi "tiền pháo", khoảng một trung đoàn bộ binh địch "hậu xung" dữ dội cả bốn phía định san bằng tiền đốn nhỏ bé bị vây hãm đã lâu ngày. Nhưng TÐ 92 BÐQ bắn trả dữ dội, tuy đạn dược khan hiếm nhưng họ tác xạ rất chính xác, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người. Có lúc vì Cộng Quân quá đông, các chiến sĩ Mũ Nâu bắn không xuể nên một số đã lọt vào lớp hàng rào phòng thủ. Nhiều trận cận chiến bằng lựu đạn diễn ra ác liệt. Quân trú phòng được lợi thế vì trú ẩn trong các hầm hố kiên cố nên đã gây thiệt hại nặng cho địch quân. Cuối cùng, trước tinh thần chiến đấu dũng mãnh và can trường của TÐ 92 BÐQ, địch đành ôm hận rút rui để lại nhiều xác đồng bọn và đủ loại vũ khí.
Tuy vẫn giữ vững được vị trí nhưng tình trạng bên trong căn cứ vô cùng bi đát. Thương binh mỗi lúc một nhiều thêm vì không được tản thương. Ðạn dược gần cạn vì các trận đánh liên tục, lương thực thiếu thốn vì không được tiếp tế đã nhiều ngày, ngay cả đên nước uống cũng khan hiếm. Hơn nữa, sau mỗi đợt tấn công bị thất bại, Cộng Quân lại điên cuồng pháo kích dữ dội hơn.
Trước tình thế nguy ngập như chỉ mành treo chuông, Trung Tá Ngôn biết rõ nếu không được tản thương, tăng viện, yểm trợ và tiếp tế hữu hiệu ngay tức khắc, việc giữ Tống Lê Chân hầu như không thể làm nổi. Trong lúc đó, biết được tình trạng cực kỳ bi đát của quân trú phòng, Cộng Quân chung quanh đồn dùng loa phóng thanh uy hiếp tinh thần và kêu gọi TÐ 92 BÐQ đầu hàng. Nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không rối trí. Một mặt ông ra lệnh cho các binh sĩ bố phòng chặt chẽ để nhất định đánh tới người cuối cùng. Mặt khác, ông gửi công điện khẩn cấp cho Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, CHT Liên Ðoàn 3 BÐQ tại An Lộc yêu cầu thả dù tiếp tế gấp khí giới, đạn dược và lương thực cho quân trú phòng. Trung Tá Ngôn cũng yêu cầu gửi quân tiếp viện và gia tăng sự yểm trợ của phi cơ. Nhưng các phi cơ dù liều lĩnh cũng không thể nào bay qua được hàng rào phòng không và quân tiếp viện cũng chẳng bao giờ tới. Tuy nhiên, dù trong tình trạng tuyệt vọng, các chiến sĩ anh dũng của TÐ 92 BÐQ vẫn nhất quyết không hàng địch. Trung Tá Ngôn còn cho biết nếu bị địch tràn ngập, ông sẽ yêu cầu dội bom phá hủy Tống Lê Chân để cùng chết với địch quân.
Nhận được công điện cầu cứu của TÐ 92 BÐQ, Ðại Tá Chuẩn lập tức chuyển lời yêu cầu tiếp viện lên BTL/QÐ II. Nhưng Tướng Thuần cho biết vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của Bộ TTM về đề nghị tăng viện hay di tản căn cứ! Trong lúc Tống Lê Chân như ngọn đèn leo lét trước trận cuồng phong, có thể bị tràn ngập bất cứ lúc nào, nhưng lệnh trên vẫn là "chờ"!
Cho tới giờ phút này, quân số tại Tống Lê Chân gồm có 254 BÐQ, 4 binh sĩ Pháo Binh, 12 lao công chiến trường và 7 nhân viên phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi. Tuy tổng cộng gần 300 nhân mạng nhưng thật sự hầu hết trong số này đã bị thương ít nhất một lần. Hơn nữa, bị vây hãm lâu ngày trong tình trạng thiếu thốn nên khả năng chiến đấu đã bị yếu đi rất nhiều.
Về phía Cộng Quân, tuy đã bị thiệt hại rất nặng nhưng lại được tăng viện và bổ xung nhanh chóng từ các an toàn khu bên Cam Bốt nên sức mạnh coi như không suy giảm. Trong lúc chỉnh đốn hàng ngũ, địch ngơi tấn công nhưng vẫn pháo kích dữ dội. Rút kinh nghiệm những trận tấn công trước đã bị thất bại chua cay, Cộng quân biết tuy TÐ 92 BÐQ sẽ chiến đấu cho đến phút chót nhưng như cá nằm trong rọ nên chúng thong thả nghỉ ngơi dưỡng quân, cố ý để quân trú phòng kiệt quệ tới mức tối đa mới tấn công dứt điểm để đỡ bị thiệt hại. Và chuyện phải đến đã đến!
Những Ðợt Cường Tập Liên Tiếp
Ròng rã trong các đêm 24, 25 và 26/3/74, Cộng quân sau khi bổ xung đầy đủ đã lìên tiếp mở những đợt xung phong biển người ồ ạt quyết san bằng Tống Lê Chân. Tuy đã gần kiệt sức, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn cắn răng chờ địch trong những giao thông hào đổ nát vì đạn pháo kích. Trung tá Ngôn và các cấp chỉ huy cũng sát cánh trong các công sự phòng thủ với thuộc cấp, ra lệnh phải tiết kiệm từng viên đạn, chỉ được bắn khi thật "chắc ăn". Giá của mỗi viên đạn phải là một quân thù. Rồi hàng hàng lớp lớp Cộng Quân tràn tới giữa tiếng hò la man đại "hàng sống, chống chết"! Ðúng lúc này, các chiến sĩ BÐQ mới cắn răng xiết chặt cò súng. Ðịch đã xâm nhập hàng rào kẽm gai phòng thủ ngoài cùng, nhưng lập tức bị khựng lại vì gắp phải bức tường lửa từ trong bắn ra rất chính xác. Xác địch chồng chất trên trận địa hay vất vưởng trên hàng rào kẽm gai. Nhưng địch quá đông, nhất định "dứt điểm" nên chúng vẫn liều lĩnh xung phong. Chẳng bao lâu, chúng tràn tới hàng rào thứ hai. Lúc này một loạt mìn "Claymore" nổ tung khiến nhiều xác giặc tan thành mảnh vụn. Tiếng súng nổ, tiếng la hét cùng với mùi thịt, mùi máu, mùi thuốc súng tạo nên một khung cảnh khủng khiếp. Nhiều chiến sĩ BÐQ quá mệt mỏi và căng thẳng gần như ngất xỉu vì những trận tấn công liên tiếp đêm này qua đêm khác nhưng vẫn không rời tay súng.
Ðịch quân quá đông, lớp này chết, lớp khác đạp lên xác đồng bạn tiến tới. Trong đêm tối, phi cơ không thể yểm trợ hỏa lực; dù có ban ngày đi nữa cũng khó bay qua màng lưới phòng không. Trên bầu trời đen kịt, chỉ có vài đóm hỏa châu do phi cơ bay thật cao thả xuống, không đủ soi sánh trận địa, trông leo lét và mong manh như số phận của gần 300 chiến sĩ đang tử chiến với quân thù. Ðịch đã tràn gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng, đôi bên giáp mặt. Các chiến sĩ Mũ Nâu buông những cây súng đỏ nòng, với tay tìm lựu đạn. Nhiều tiếng nổ chát chúa giúp hàng loạt những con thiêu thân thực hiện lời thề "sinh Bắc tử Nam". Lại một loạt lựu đạn thứ hai tung ra giết hết những tên địch còn sống sót trong đợt xung phong này. Bên ngoài hàng rào, không còn những bóng người đầu đội nón cối, chân đi dép râu di động như trước. Sau đó, mặt trận bỗng nhiên im bặt không còn những tiếng la hét hô xung phong man dại. Những tên địch ngoài xa may mắn còn sống sót biết không thể xâm nhập căn cứ nên vội vã lẩn vào bóng đêm. Ðợt xung phong cuối cùng của địch đã bị chận đứng tuy chúng đã lọt được gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng.
Một lần nữa, Cộng Quân tuy đông hơn nhưng lại bị thất bại chua cay trước sự quả cảm và tinh thần chiến đấu gan dạ vô song của các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ. Cùng với lời nguyền "Thà chết không hàng giặc", căn cứ Tống Lê Chân tuy tan nát như TÐ 92 đang tan nát, nhưng vẫn đứng vững như một phép lạ. Vỏn vẹn một Tiểu Ðoàn QLVNCH vẫn giữ vững được vị trí sau khi bị bao vây hàng năm trời với nhiều đột tấn công của hàng Sư Ðoàn địch? Các "cố vấn" Hoa Kỳ còn sót lại tại BTL/QÐ III đã vô cùng kinh ngạc. Trước đây họ đã cho rằng số phận của Tống Lê Chân coi như đã "xong", vì theo ước tính của những người lạc quan nhất, ngay cả quân đội Hoa Kỳ với hỏa lực khủng khiếp của thảm bom "Arc Light" B-52 và đại pháo 175 cũng khó lòng giữ nổi Tống Lê Chân trong vòng vài ba tuần. Phía Công quân lại càng sững sờ vì chúng tưởng sẽ ăn tươi miếng mồi béo bở nhưng lại gặp phải cục xương khó nuốt. Sau nhiều cuộc tấn công thất bại và bị thiệt hại nặng nề, chúng đành ôm hận, lập lại sa bàn trận địa, bổ sung quân số, rút ưu khuyết điểm chờ ngày rửa hận.
Trong những ngày kế tiếp và suốt tuần lễ đầu tiên của tháng 4/74,Cộng Quân không giám tấn công mạnh vào Tống Lê Chân. Chúng chỉ dùng đặc công quấy rối nhưng mức độ pháo kích vẫn không giảm. Nhưng "mãnh hổ nan địch quần hồ", các chiến sĩ Mũ Nâu đã không còn sức chiến đấu. Ðến lúc này, thượng cấp vẫn chưa có quyết định dứt khoát về việc tăng viện hay rút bỏ Tống Lê Chân. Cả Phủ Tổng Thống, Bộ TTM lẫn BTL/QÐ III đều lâm vào thế "tiến thối lưỡng nan" không có cách nào giải quyết vấn đề. Sau 17 tháng trời ròng rã bị vây hãm, pháo kích và tấn công liên miên TÐ 92 BÐQ hầu như không còn phương cách nào để thoát khỏi viễn ảnh bị tiêu diệt.
Trận Ðánh Sau Cùng Của TÐ 92 BÐQ
Nhưng tình trạng tạm thời sống lây lất không còn kéo dài được bao lâu. Tống Lê Chân như một con cá phơi mình trên thớt không còn phương cách tự vệ, nằm chờ lưỡi dao chém xuống. Và lưỡi dao đã rơi ...
Ngày 11/4/74, sau khi tái điều nghiên, bổ xung lực lượng, Cộng quân mở những cuộc tấn công ác liệt quyết đạt được chiến thắng bằng mọi giá. Trong ngày chúng pháo kích mù mịt không dưới 1,000 quả đạn vào căn cứ đã tan nát trong các cuộc tấn công trước. TÐ 92 BÐQ lúc này đã kiệt lực, hết đạn, một số lớn binh sĩ lại bị thương nên không còn sức chống trả những đột tấn công mãnh liệt của đối phương. Nhưng dù tình thế đã đến lúc tuyệt vọng nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không ra lệnh rời bỏ căn cứ khi chưa có lệnh của thượng cấp. Trước những loạt đạn pháo kích chính xác và các đợt tấn công biển người, vị TÐT anh hùng biết chắc không thể nào phòng thủ được nữa nên khẩn cấp yêu cầu thượng cấp cho lệnh di tản trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Trung Tướng Thuần, Tư Lệnh QD III - không rõ có tham khảo ý kiến của Bộ TTM hay Phủ Tổng Thống hay không - ra lệnh cho Trung Tá Ngôn phải "tử thủ bằng mọi giá"!
Nhưng TÐ 92 BÐQ sau hơn một năm trời bị vây hãm, bị pháo kích và tấn công liên miên bởi một lực lương địch quân đầy đủ vũ khí và đông hơn nhiều lần, lại thiếu đạn dược, lương thực, quân số hao hụt không được bổ xung nên đã chẳng còn giá nào để trả! Các chiến sĩ Mũ Nâu không còn nhiều chọn lựa: ở lại căn cứ chắc chắn sẽ bị chết hay bị bắt hết vì không còn cách nào ngăn chận địch quân hoặc đầu hàng để tìm con đường sống. Nhưng theo truyền thống hào hùng của binh chủng Mũ Nâu, dù trong lúc thập tử nhất sinh cũng vẫn không hàng địch. Trung Tá Ngôn đã đưa ra một quyết định vô cùng táo bạo: dùng toàn lực phá vòng vây, rời bỏ căn cứ, tuy có thể bị chết hết nhưng may ra sẽ đưa đơn vị tới một nơi an toàn.
Sau khi quyết định xong, vào khoảng nửa đêm 11/4, căn cứ Tống Lê Chân báo cáo nguy cơ sắp bị địch quân tràn ngập. Sau đó, mọi giấy tờ, tài liệu quan trọng đã được thiêu hủy đúng theo kế hoạch di tản để không bị lọt vào tay địch. Lúc dó, chỉ có phi cơ bay thật cao thả hỏa châu yểm trợ. TÐ 92 BÐQ yêu cầu phi cơ ngưng thả trái sáng để đơn vị nương theo bóng tối rời bỏ căn cứ. Dưới sự chỉ huy gan dạ của vị TÐTtrẻ tuổi vả tinh thần kỷ luật của toàn thể binh sĩ, TÐ 92 BÐQ đã di tản trong vòng trật tự, mang theo tất cả những thương binh. Liên lạc vô tuyến với BTL/QÐ III bị gián đoạn ngay sau đó.
Mãi tới 9 giờ sáng ngày hôm sau 12/4, BTL/QÐ III mới bắt được liên lạc với TÐ 92 BÐQ trên tần số hành quân lúc đó đã rời khỏi Tống Lê Chân đang trên đường di chuyển về hướng An Lộc, khoảng trên 15 cây số về hướng Ðông Bắc. Cuộc hành trình xuyên qua rừng rậm dưới sự rình rập của Cộng Quân, lại phải mang theo nhiều thương binh nên vô cùng gian nan vất vả. Suốt đêm, Tiểu Ðoàn 92 BÐQ phải kịch chiến với địch, vừa đánh vừa tìm đường rút lui khiến thêm 14 binh sĩ tử thương, 34 người nữa bị thương. Cuối cùng, may mắn như một phép lạ, TÐ 92 BÐQ tới được An Lộc tương đối an toàn, chỉ có thêm 4 chiến sĩ can đảm ở lại chận đường truy kích của địch quân để thành phần chủ lực rút lui anh dũng hy sinh. Tất cả các thương binh, kể cả xác chết của những người bị thiệt mạng đề được mang về.
Biệt Ðộng Quân: Sát!
Nhìn chung, Tống Lê Chân chỉ là một tiền đồn nơi đèo heo hút gió gần biên giới Việt - Miên không được nhiều người biết đến. TÐ 92 BÐQ lại là một đơn vị tương đối trẻ trung mới được thành lập từ năm 1970. Vị TÐT, Trung Tá Lê Văn Ngôn, con Cọp đầu đàn của TÐ 92 BÐQ cũng là một sĩ quan rất trẻ mới 25 tuổi, xuất thân khóa 21 Võ Bị Ðà Lạt. Trận đánh tại Tống Lê Chân cũng không phải là một cuộc đụng độ lớn. Cuối cùng, Tống Lê Chân lại rơi vào tay địch.
Như vậy, về mặt quân sự, rõ ràng trận đánh tại Tống Lê Chân cũng chỉ "tầm thường" như những trận đánh cùng tầm cỡ khác, kết thúc bằng việc quân trú phòng phải di tản. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần chiến đấu và sức chịu đựng phi thường của các chiến sĩ Mũ Nâu, Tống Lê Chân đã vượt xa những trận đánh lớn nhỏ khác trong quân sử với nhiều điểm rất đặc biệt. Ðây là cuộc bao vây lâu dài nhất trong quân sử, một trận dánh trong chiến cuộc Việt Nam mà lực lượng đôi bên chênh lệch nhất và sau cùng, một cuộc lui binh thần tình nhất do một vị TÐT trẻ tuổi nhất, can trường nhất chỉ huy.
Cuộc Bao Vây Dài Nhất Trong Quân Sử
Kể từ khi trại Tống Lê Chân bị Cộng Quân khởi sự uy hiếp vào năm 1972 cho tới khi TÐ 92 BÐQ phải di tản vào tháng 4 năm 1974, căn cứ đã bị bao vậy ròng rã 17 tháng trời! Vòng vây của địch vô cùng chặt chẽ khiến "Nôi bất xuất, ngoại bất nhập", kể cả đường hàng không. Chẳng những việc gửi quân tăng viện, tản thương và tiếp đạn dược, lương thực v.v... đều bị giới hạn nhỏ giọt mà ngay cả đến cặp lon Trung Tá thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận của TÐT Lê Văn Ngôn cũng phải thả dù vào trong trại, không có người gắn lon và việc "rửa lon" truyền thống của nhà binh có lẽ đã được thực hiện bằng máu của Cộng quân. Ðiều này làm chúng ta liên tưởng đến chiếc lon thăng cấp của Ðại Tá De Castries, người hùng cùa đoàn quân viễn chinh Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954 cũng đã được thả dù vào khu lòng chảo. Nhưng De Castries trước kia đã không quá cô đơn và bị bao vây ngột ngạt như Lê Văn Ngôn tại Tống Lê Chân vì ít ra cũng có một số quân nhẩy dù tăng viện. Ngoài ra, De Castries cò có những "nàng hầu" thân yêu như Béatrice, Éliane, Huguette, Dominique để ... tâm sự. Còn Lê Văn Ngôn và TÐ 92 BÐQ chỉ có độc nhất một quả đồi trơ trụi với vòng cao độ không quá 50 thước trên bản đồ UTM, một vị trí vuông vức mỗi bề không quá 300 thước để sống chết ôm ấp ròng rã gần một năm rưỡi trời! Cuộc bao vây ngặt nghèo tới nỗi vào những ngày tháng chót, cả đến việc thả dù tiếp tế cũng bị gián đoạn, còn nói gì đến việc tản thương hay tiếp viện bằng trực thăng.
Về các cuộc bao vây nổi tiếng khác trong chiến sử, Ðiện Biên trước kia cũng chỉ kéo dài 57 ngày. Ðịa ngục Khe Sanh, niềm tự hào của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng chỉ bị bao vây dăm ba tháng, nhưng với thảm bom dầy đặc đêm ngày của B-52, và lúc nào cũng có ba tầng phi cơ chiến thuật chờ sẵn trên không để dội bom, binh sĩ trú phòng coi như được đi nghỉ mát dưỡng quân theo tiêu chuẩn lính Việt Nam, vì họ không thiếu một thứ gì, kể cả nuớc đá để uống giải khát! Trong kỳ đệ nhị thế chiến, Stalingrad lừng danh cũng chỉ bị quân Ðức bao vây gần ba tháng. Tobruk của người Anh cũng chỉ cần tử thủ hơn 8 tháng. Còn Tống Lê Chân? Suốt 17 tháng truờng ròng rã trong những điều kiện tăng viện và tiếp vận khó khăn nhất. Như vậy, sức chịu đựng của người lính VNCH phải được coi là bền bỉ siêu đẳng vô địch.
Lực Lượng Chênh Lệch Một Trời Một Vực
Về tương quan lực lượng đôi bên, khi xảy ra trận đánh tại Tống Lê Chân, phía Cộng quân có các Sư Ðoàn 5, 7 và 9 cùng Sư Ðoàn Pháo Phòng Không 377 tân lập, cộng thêm dăm ba Tiểu Ðoàn địa phương và đặc công "lẻ tẻ". Tuy Công Trường 5 đã bị thiệt hại khá nặng trong những cuộc hành quân vượt biên đánh sang vùng Lưỡi câu - Mỏ Vẹt trước đây của QLVNCH, nhưng đã được tăng viện nhanh chóng và thường lẩn quất tại vùng biên giới để uy hiếp các trại BÐQ Biên Phòng. Ngoài ra, Công Trường 7 cùng với Tiểu Ðoàn Pháo 22 và Tiểu Ðoàn Ðặc Công 28, sau khi tràn ngập các căn cứ Chí Linh nẳn trên Liên Tỉnh Lộ 13 giữa Chơn Thành và Ðôn Luân, cũng đè nặng áp lực trên quãng đường bộ từ Lai Khê đến An Lộc Riêng Công Trường 9 của Cộng Quân với 3 Trung Ðoàn còn đầy đủ quân số vừa từ Cam Bốt xâm nhập được dùng làm mũi dùi tiến công chính đánh Tống Lê Chân, sau khi đã buộc các trại BÐQ Biên Phòng khác như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập phải di tản.
Tống Lê Chân là căn cứ biên phòng duy nhất còn lại trong vùng vì tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại giữ trại. TÐ 92 BÐQ với quân số vỏn vẹn khoảng 300 người, đã bị hàng sư đoàn địch quân thay nhau tấn công và vây hãm hàng năm trời không được tăng viện. Thế mà các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn anh dũng bền gan chiến đấu, nhất định không hàng địch! Ðây quả là một thành tích phi thường ngoài sức tưởng tượng!
Cuộc Lui Binh Thần Tình
Sau gần một năn rưỡi trời giữa vòng vây trùng điệp, lại bị tấn công liên miên, đương nhiên TÐ 92 BÐQ phải kiệt sức. Cho tới khi tình trạng tuyệt vọng, đơn vị chỉ còn đường rút lui để bảo toàn lực lượng nhưng cũng không quên dùng chất nổ phá hủy doanh trại, không để lọt vào tay Công Quân. Sau đó, tuy bị truy kích, nhưng các con Cọp Rừng Mũ Nâu đã về được tới An Lộc với tổn thất nhẹ không ngờ: trong số 277 binh sĩ gồm nhiều thương binh, một số lớn đã về được An Lộc. Ðây là một thành quả quá sức mong đợi cho một cuộc hành quân lui binh sâu trong lòng địch. Với tài chỉ huy khôn khéo, tinh thần kỷ luật và sức chiến đấu bền bỉ gan dạ, các chiến TÐ 92 BÐQ đã làm nhiều người ngạc nhiên và thán phục khi rút quân thành công trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bi đát.
uộc lui quân thành công ngoài sức tưởng tượng này đã khiến dư luận phía Hoa Kỳ nghi ngờ rằng TÐ 92 BÐQ đã "thương lượng" với Cộng Quân, bằng lòng bàn giao căn cứ Tống Lê Chân để đổi lấy việc rút lui an toàn. Quả thật, việc TÐ 92 BÐQ phá được vòng vây về được đến An Lộc phải coi như một phép lạ nên "dư luận" thương thuyết không phải là không có lý. Vả lại, đây cũng là một trong ba giải pháp mà BTL/QÐ III đã đề nghị lên thượng cấp cách đó không lâu. Ngoài ra, rất có thể những lời đồn đại nói trên là do Cộng Quân tung ra để đỡ bị mất mặt vì TÐ 92 BÐQ đã vượt khỏi vòng vây như chỗ không người.
hật sự, TÐ 92 BÐQ đã chỉ giết giặc chứ không bao giờ thương lượng với chúng và cuộc rút lui thành công vì tinh thần kỷ luật cũng như khả năng chiến đấu tuyệt vời của các chiến sĩ Mũ Nâu. Bằng cớ xác thực nhất là chính những tài liệu bắt được sau đó tại mặt trận cùng những lời khai của tù hàng binh Cộng Quân đã cho thấy không hề có chuyện "thương lượng". Một hồi chánh viên tham dự trận đánh sau cùng vào đêm 12/4 tại Tống Lê Chân đã thuật lại khá chi tiết về biến cố này. Sau trận pháo kích dữ dội, bộ binh địch có chiến xa yểm trợ đã mở các cuộc tấn công mạnh. TÐ 92 BÐQ không còn đạn dược và nhất là không có vũ khí chống chiến xa nên bắt buộc phải rời bỏ vị trí. Tống Lê Chân bị bỏ ngỏ từ đêm 12/4 nhưng vì hàng rào phòng thủ quá kiên cố, lại có nhiều bãi mìn, hơn nữa Cộng quân sợ TÐ 92 BÐQ còn tử thủ sẽ gây cho chúng nhiều thiệt hại như những lần trước nên mãi tới ngày 13/4 chúng mới vào được trại. Lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu đã rời xa căn cứ trên đường về An Lộc. Tống Lê Chân đã bị đặt chất nổ phá hủy. Ðịch chỉ tìm thấy xác của 2 BÐQ và bắt sống một người khác.
Một bằng chứng rõ ràng khác là bản báo cáo của Cộng quân bị QLVNCVH tịch thu. Tài liệu này tiết lộ một đơn vị Cộng Quân có nhiệm vụ chặn đường rút lui của TÐ 92 BÐQ đã bất tuân thượng lệnh, không bố trí quân tại những vị trí đã ấn định vì sợ bị phi pháo VNCH tiêu diệt. Cuối cùng, bản báo cáo còn đưa ra nhận xét rằng trong trận đánh tại Tống Lê Chân, tinh thần binh sĩ TÐ 92 BÐQ rất cao, còn cao hơn cả nhiều đơn vị chính qui của Cộng Quân có nhiệm vụ tấn công.
Ðường Vào Lịch Sử
Trận đánh tại Tống Lê Chân chính thức chấm dứt vào ngày 15 tháng 4 năm 1974 khi binh sĩ cuối cùng của TÐ 92 BÐQ về tới An Lộc. Trước đó, vào ngày 13/4, phi cơ của Không Quân VNCH đã bay 19 phi vụ thả bom đánh vào lực lượng Cộng Quân tại Tống Lê Chân. Tuy trận đánh đã chấm dứt từ lâu, nhưng qua cuộc bao vây dài nhất trong quân sử và cuộc lui binh thành công mỹ mãn, huyền thoại của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân vẫn sống mãi. Các chiến sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Ngôn đã tô đậm một nét son cho truyền thống hào hùng của binh chủng Biệt Ðộng Quân và viết một trang sử huy hoàng trong pho quân sử QLVNCH.
Trần Ðỗ Cẩm
ngay09
07-25-2007, 12:03 AM
Chiến Ðấu Ðến Cùng:
Vai Trò Của Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh Và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III
Trong Những Ngày Cuối Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Nhân đọc KBC số 14 "Ngày tàn binh của tôi hay là ngày cuối cùng của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh" của Nguyễn Minh Tánh, ở trang 35 có câu "...nhưng trong thâm tâm tôi lúc đó là rời khỏi đây đi về Vùng 4 Chiến Thuật chứ Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp thì đã tan hàng từ khuya." Anh Nguyễn Minh Tánh kể lại diễn biến sáng ngày 30-4-1975 tại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê và nghĩ rằng Lữ Ðoàn Kỵ Binh trấn giữ Biên Hòa lúc đó đã tan hàng từ lâu rồi!
Tôi không rõ anh Tánh dựa vào đâu mà nói như vậy. Tôi đề nghị anh công khai đưa lên báo chí hay KBC chứng cớ rõ ràng để cho Cộng Ðồng Việt Nam nhất là những chiến hữu của chúng ta biết rõ. Ðiều mong muốn của tôi là tất cả quân nhân các cấp đã anh dũng chiến đấu, dưới ngọn cờ của Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III trong đó có Thiết Giáp Kỵ Binh, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Cách Dù, Nhảy Dù, Quân Y, Quân Cụ, Tiếp Vận, nhữmg chiến sĩ kiên cường đã nằm xuống, bị thương tật hay còn sống hiện nay trong nước hay ở ngoài nước không hổ thẹn khi nhắc đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến trang Việt Nam.
1. Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III
Lữ Doàn 3 Kỵ Binh là đơn vị Thiết Giáp nồng cốt và là đơn vị khung của Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn IIỊ Lực lượng này do Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí thành lập giao cho tôi tổ chức huấn luyện và chỉ huy từ tháng 11/1970 để phục vụ chiến trường Campuchia.
Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III là một lực lượng liên binh gồm nhiều binh chủng hợp đồng chiến đấu trên chiến trường, lúc cao điểm quân số và khả năng tác chiến của nó tương đương với một Sư Ðoàn cơ giới. Ðây là một lực lượng cơ động cao, hỏa lực mạnh, trừ bị xung kích Quân Ðoàn III, khi thì can thiệp vào khu vực hành quân của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, khi thì tác chiến trong khu vực hành quân của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Trong Vùng III Chiến Thuật, chỗ nào "nặng" là có mặt Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III. Thời Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí là Tư Lệnh Quân Ðoàn III kiêm Tư Lệnh Vùng 3 Chiến Thuật, nó là lực lượng chủ lực Quân Ðoàn, luôn luôn chủ động và thường xuyên hoạt động trên chiến trường ngoại biên Campuchia.
Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III đã từng quần thảo nhiều với các Sư Ðoàn cộng sản Bắc Việt còn gọi là Công Trường CT-5, CT-7 và CT-9 ở Peang Cheang, Chup, Chlong, Ðambe, Krek, Snoul, Ðức Huệ, An Ðiền, Rạch Bắp.
Nó cứu Chiến Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân của Ðại Tá Ðương ở Chlong và Ðambe tháng 2/3-71 khi rút ra QL-7. Nó tiếp cứu Chiến Ðoàn 8/SÐ5BB ở Snoul rút về Lộc Ninh tháng 6-71. Nó giải vây và cứu Tiểu Ðoàn 30 BÐQ của Thiếu Tá Võ Mộng Thùy ở căn cứ Alpha trên mặt trận Krek tháng 11-71.
Cuối năm 1971 tôi rời LÐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III. Trong hai năm 1972-1973 tôi du học. Không bao lâu, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn III phân tán và giải thể LÐ3KB đồng thời giải tán Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III. Khi trận An Lộc- Bình Long bùng nổ dữ dội mùa Hè 1972, lực lượng Thiết Giáp QÐ III hoàn toàn bị tê liệt.
Khi tôi trở về nước, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần thay Trung Tướng Nguyễn Văn Minh yêu cầu tôi trở về lại LÐ3KB. Ngày 7-11-1973 tôi nhận Lữ Ðoàn và đề nghị với Tướng Thuần tổ chức lại Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III theo mô hình tổ chức của Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động. Tôi gom Thiết Giáp lại. Bấy giờ mình đã có chiến xa M-48. Tôi thay đổi tổ chức, mỗi Chi Ðội 3 chiến xa M-48, nó nhẹ nhàng, linh hoạt và hữu hiệu hơn 1 Chi Ðội 5 chiến xa. Mỗi Chi Ðoàn 11 chiến xa M-48 giờ đây có 4 Chi Ðoàn chiến xa 44 chiếc và 3 xe chỉ huy = 47 chiếc. Một Thiết Ðoàn chiến xa M-48 tổ chức theo Mỹ có 54 chiếc, vì vậy tôi có dư ra 7 chiến xa M-48 làm dự trữ. Tôi cơ động hóa TÐ61 PB 105/Quân Ðoàn III bằng cách dùng xe xích M-548 (xe chở ngặng đạn thiết giáp) cho quân cụ biến cải chở đại bác 105 ly của Pháo Binh đồng thời huấn luyện pháo thủ cách vận chuyển và hạ súng tác xạ. Ðược tăng phái Liên Ðoàn 33 BÐQ, Tiểu Ðoàn 46 PB 155, Tiểu Ðoàn 61 PB PB 105 và Tiểu Ðoàn 302 CB, tôi tổ chức Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III thành 3 Chiến Ðoàn Thiết Giáp: Chiến Ðoàn 315, Chiến Ðoàn 318 và Chiến Ðoàn 322. Các Chiến Ðoàn đều có tổ chức giống nhau. Mỗi Chiến Ðoàn có: 2 Chi Ðoàn Thiết Kỵ M-113, 1 Chi Ðoàn Chiến Xa M-48, 1 Tiểu Ðoàn BÐQ, 1 Pháo Ðội 105 ly cơ động trên xe M-548 và 1 Trung Ðội Công Binh. BDH/LÐ 33 BÐQ, Ðội Trinh Sát/LÐ33, PÐ 105/LÐ 33, TÐ 46 PB 155, TÐ 302 CB(-) Chiến Ðoàn Chiến Xa M-48/TH.Ð 22 và ÐÐ Yểm Trợ Tiếp Vận/ BCH3TV.
Sau khi kiện toàn tổ chức, huấn luyện chiến đấu hợp đồng binh chủng, học tập chính trị và tuyên truyền giáo dục tư tưởng, tôi báo cáo lên Tư Lệnh Quân Ðoàn III là chúng tôi đã sẵn sàng.
Ngày 2-4-1974, Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III lại xuất quân, bất thần tiến vào vùng liên ranh Củ Chi-Trảng Bàng, đánh giải tỏa áp lực địch chung quanh đồn Bò Cạp ở Bắc Củ Chi và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng. Chiến Ðoàn 315 đập tan TÐ Tây Sơn thuộc Trung Ðoàn 101 địa phương. Cuối tháng 4-1974, Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III đánh bại hoàn toàn Sư Ðoàn 5 Cộng Sản BV, giải vây cứu TÐ 83 BÐQ Biên Phòng ở Căn Cứ Ðức Huệ. Nó yểm trợ Sư Ðoàn 5 BB phản công chiếm lại An Ðiền, Căn Cứ 82 và Rạch Bắp tháng 7/8-74. Nó giải tỏa áp lực địch ở phía Bắc Bình Dương, tiêu diệt BCH/TÐ Phú Lợi tháng 2-75. Nó gỉai tỏa áp lực ở Gò Dầu Hạ, Dầu Tiếng, Khiêm Hạnh tháng 3-75 để yểm trợ SÐ 25 BB tấn công lên phía Bắc Tây Ninh. Và đặc biệt từ ngày 11-4-75 đến ngày 25-4-75, trong 14 ngày đêm nó chận đứng mũi tấn công củ 1 Quân Ðoàn Cộng Sản BV ở Hưng Lộc-Ngã Ba Dầu Giây và đánh giải vây tiếp cứu Chiến Ðoàn 52/SÐ 18 BB rút về Long Bình-Biên Hòa.
2. Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III Trong 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam
Tình hình vào hạ tuần tháng 4-75 biến chuyển dồn dập. Áp lực địch ở mặt trận phía Ðông ngày càng nặng, tôi được Quân Ðoàn tăng cường Trung Ðoàn 8/SÐ5BB do Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng chỉ huy. Lực lượng địch và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III giằng co dữ dội trên tuyến Hưng Lộc-Ngã Ba Dầu Giây. Tôi buộc phải sử dụng hai quả bom CBU 55 của Không Quân Biên Hòa để chận đứng địch và giải cứu Chiến Ðoàn 52/SÐ18BB của Ðại Tá Dũng khỏi bị tiêu diệt. Ở Sài Gòn có âm mưu lật đổ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tôi được móc nối đảo chánh nhưng cương quyết từ chối và tuyên bố chống lại. Phi trường Biên Hòa đóng cửa. Ngày 20-4-75 SÐ18BB của Tướng Lê Minh Ðảo rút bỏ Xuân Lộc về Long Bình. Ngày 21-4-75, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. Ngay ngày hôm sau, tại mặt trận, tôi viết thư cho Trung Tướng Charles Timmes, Phụ Tá Ðại Sứ Martin ở Sài Gòn, đại ý nói: "Thưa Trung Tướng, trong khi tôi đang ngăn chận các Sư Ðoàn Cộng Sản ở đây thì cũng là lúc Quốc Hội Hoa Kỳ đang thảo luận có nên tiếp tục viện trợ thêm 300 triệu Mỹ kim cho Quân Lực VNCH không. Tình hình gần như tuyệt vọng. Tôi nghĩ rằng cho dù ngay bây giờ Quốc Hội Hoa Kỳ có chấp thuận viện trợ cho Quân Lực chúng tôi đi nữa thì cũng đã quá muộn rồi. Tuy nhiên tôi và toàn thể quân nhân các cấp thuộc quyền tôi nguyện sẽ chiến đấu đến phút cuối cùng. Tôi chỉ xin Trung Tướng giúp cho gia đình tôi được di tản đến một nơi an toàn..."
Sau khi SÐ18BB được nghỉ 5 ngày bổ sung quân số và dưỡng quân, ngày 25-4-75 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III điều động đơn vị này lên mặt trận Trảng Bom-Hưng Lộc-Ngã Ba Dầu Giây để thay thế Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III được rút về Biên Hòa dưỡng quân. Trung Ðoàn 9/SÐ5BB được hoàn trả về hậu cứ ở Lai Khê. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III trở thành lực lượng trừ bị Quân Ðoàn.
Về tới Biên Hòa chưa kịp nghỉ ngơi, ngay chiều ngày 25-4-75, có tin lực lượng địch chiến trường Thiết Giáp và tiến ra hướng Quốc Lộ 15. Có lệnh Quân Ðoàn, tôi liền phái Chiến Ðoàn 322 tăng cường 1 Tiểu Ðoàn TQLC do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy tấn công theo hướng Ngã Ba Long Thành-Trường Thiết Giáp. Chiến Ðoàn vừa rời Quốc Lộ 15 tiến về hướng trường Thiết Giáp, thì chạm địch nặng và giao trang dữ dội với chúng đến khuya bắn cháy 12 chiến xa T-54 buộc chúng phải rút vào bên trong. Chiến thắng này làm nức lòng toàn dân ở Biên Hòa. Sau khi kiểm soát kết quả trận đánh, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III hứa sẽ thưởng 1.200.000 đồng cho các chiến sĩ có công diệt chiến xa địch, mỗi chiếc hạ được 100.000 đồng.
Ngày 29-4-75 có lệnh mới của Quân Ðoàn. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ngoài Liên Ðoàn 33 BÐQ, được tăng phái thêm: Lư Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù(- Tiểu Ðoàn) và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, yểm trợ hỏa lực trực tiếp có: Tiểu Ðoàn 46 PB 155 và Tiểu Ðoàn 61 PB 106 Quân Ðoàn.
12 giờ trưa ngày 29-4-75, Trung Tướng Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại Bộ Tư Lệnh SÐ18BB ở Long Bình. Chỉ có Toàn, Ðảo và tôi. Anh chỉ tay lên bản đồ ra lệnh cho SÐ19BB của Ðảo phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên Hòa, kế đó ra lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa và đặt lực lượng ÐPQ và NQ của Tiểu Khu Biên Hòa dưới quyền kiểm soát của tôi. Sau này đi tù tôi mới biết ngay lúc này phía bên khu vực SÐ25BB ở Củ Chi đã bị địch chiếm, SÐ25BB đã bị đánh tan và Tướng Lý Tòng Bá đã bị địch bắt. Nguyễn Văn Toàn giấu tôi và Lê Minh Ðảo tin xấu này. Anh chuẩn bị sắp xếp để bỏ trốn. Vừa nhận nhiệm vụ xong, tôi chợt thấy xuất hiện Ðại Tá Hiếu, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 43/SÐ18BB với giọng rung rung xúc động, Hiếu báo cáo: quân địch đang tấn công Trảng Bôm và Trung Ðoàn 43 BB đang rút quân về hướng Long Bình, mặt Ðảo cau lại, Toàn nổi giận la hét Hiếu bắt Hiếu phải đem quân trở lại vị trí cũ, Hiếu làm như tuân lệnh, chào và lui ra. Trong thâm tâm tôi, tôi biết là mặt trận phía Ðông Biên Hòa ở Trảng Bôm của SÐ18BB khó có thể cầm cự nổi vì SÐ18BB đã bị kiệt sức sau trận đánh lớn ở Xuân Lộc không được bổ sung. Sự sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian. Giao nhiệm vụ cho tôi và Ðảo xong, Toàn đứng dậy bắt tay hai chúng tôi và nói: "Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ Tổng Tham Mưu xin yểm trợ cho hai anh." Xoay qua tôi, anh nói tiếp: Còn số tiền thưởng 1.200.000, tôi sẽ cho người mang đến Lữ Ðoàn." Ðấy là những lời nói cuối cùng của Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III, tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Hòa đã bỏ trốn từ nấy ngày trước. Trước hết, tôi ban hành lệnh thiết quân luật ở Biên Hòa kể từ 15 giờ 00 ngày 29-4-75, chỉ thị cho các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân chung quanh thị xã Biên Hòa bố trí tại chỗ, ở đâu ở đó, không được rời vị trí, không được di chuyển. Cảnh sát Biên Hòa chịu trách nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt để thi hành nguyên tắc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ðể phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa, tôi phối trí Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III như sau:
- Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù: Bố trí trong khu phi trường Biên Hòa, giữ mặt Bắc BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến: 1 Tiểu Ðoàn bảo vệ BTL/Quân Ðoàn III, Lữ Ðoàn(-1 Tiểu Ðoàn) bố trí phòng thủ mặt Nam BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn): Tổ chức phân tán thành nhiều Tiểu Ðội chiến đấu nhỏ, giữ Cầu Mới Biên Hòa, giữ Cầu Sắt Biên Hòa và đặt các nút chận trên đường xâm nhập vào thành phố Biên Hòa.
- Chiến Ðoàn 315: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than đến ngã Tư Lò Than (gần trại Ngô Văn Sáng).
- Chiến Ðoàn 322: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than đến cổng phi trường Biên Hòa (trừ bị 1).
- Chiến Ðoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Hòa đến Cầu Mới Biên Hòa (trừ bị 2).
- Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.
- BTLLÐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III: Ðặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi đang ăn cơm trưa với Bộ Tham Mưu trong tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn, thì thình lình chiếc trực thăng chỉ huy của Tướng Toàn đáp xuống bãi đáp trong vườn hoa tư dinh bên cạnh chiếc trực thăng chỉ huy của tôi. Thiếu Tá Cơ pilot vào chào tôi và báo cáo cho tôi biết. Sau khi rời Long Bình, Cơ đưa Toàn và bộ hạ ra Vũng Tàu, nơi đó anh thấy có các Tướng Lãm và Hiệp chờ Tướng Toàn, rồi cả 3 người cùng đi bằng tàu đánh cá ra Hạm Ðội Mỹ ở ngoài khơi. Tin Toàn bỏ trốn không làm tôi ngạc nhiên. Anh Cơ xin được ở lại làm việc với tôi. Tôi đồng ý vì đơn vị trực thăng của anh giờ này không còn ở Biên Hòa nữa.
Lúc 17 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi dùng xe Jeep có hộ tống đi một vòng quan sát tình hình trong và chung quanh thành phố Biên Hòa. Tình hình chung có vẻ yên tĩnh, dân chúng không ra đường, phố xá đóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng sản bắt đầu xâm nhập vào mặt Bắc và Ðông Bắc thành phố từ hướng phi trường đụng với quân Biệt Cách Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Giao tranh bắt đầu, 1 cánh quân Biệt Ðộng Quân của Chiến Ðoàn 315 cũng đụng địch ở gần trại Ngô Văn Sang. Ðịch bám sát vào tuyến phòng thủ mặt Bắc và Ðông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận địa nằm cách nhau 10-15 mét. Cho đến giờ phút này, quân ta chiến đấu vững vàng tự tin. Không có tình trạng bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta đẩy địch ra xa tuyến phòng thủ.
Lúc 20 giờ 00 tôi gọi trại Phù Ðổng ở Sài Gòn. Nơi đây là Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và là nơi Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III vừa đặt bản doanh. Có trả lời nhưng không một ai có thẩm quyền để nhận báo cáo của tôi hoặc liên lạc với tôi. Tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, không có cách gì liên lạc được. Tôi nóng lòng chờ lệnh của Sài Gòn. Tôi tự hỏi Ðại Tướng Dương Văn Minh, tân Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội có giải pháp gì không? Có lệnh gì mới cho chúng tôi không?
Ðến 22 giờ 10 có chuông điện thoại reo, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở đầu giây: "Tôi là Trung Tướng Có đây, tôi đang ở bên cạnh Ðại Tướng, anh cho chúng tôi biết tình hình ở Biên Hòa như thế nào?" "Thưa Trung Tướng, tôi giữ thị xã Biên Hòa, Ðảo giữ Long Bình, Toàn đã bỏ chạy, phi trường Biên Hòa địch chiếm, áp lực địch rất nặng ở hướng Bắc và Ðông Biên Hòa." 1, 2, 3 phút trôi qua, ở đầu giây, Tướng Có nói tiếp" "Ðại Tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên Hòa đến 08 giờ 00 sáng mai, để Ðại Tướng nói chuyện với bên kia được không?" Tôi trả lời không do dự "Ðược, tôi có thể giữ vững Biên Hòa đến 08 giờ 00 sáng mai." Trong máy điện thoại, tôi nghe văng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại với Ðại Tướng Minh. Cuối cùng Tướng Có nói: "Lệnh của Ðại Tướng cho anh: Chỉ huy phòng thủ bảo vệ Biên Hòa đến 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75. Chúc anh thành công." Tôi đáp nhận.
Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, địch bắt đầu pháo dữ dội vào thị xã Biên Hòa, chúng tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung Ðoàn từ Ngã Ba Hố Nai - Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo xông ra chận địch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp đảo địch. Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa địch bị bắn cháy. Ðịch rút lui.
Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, Tướng Lê Minh Ðảo gọi tôi ở đầu máy PC-25: "Báo anh hay tôi bị quân địch tràn ngập, Long Bình đã bị chúng chiếm." Tôi liền hỏi: "Anh hiện giờ ở đâu? Có cần gì tôi không?" Ðảo đáp: "Tôi hiện ở gần nghĩa trang Quân Ðội, đang rút đi về hướng Thủ Ðức." Tôi cảm thấy đau buồn và tội nghiệp Ðảo vô hạn. Những năm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Ðảo rất vất vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, vì Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi là lực lượng cơ động số 1, và SÐ18BB của Ðảo là lực lượng cơ động số 2 của Quân Ðoàn. Trong tù, bọn cán bộ cộng sản rất để ý đến hai chúng tôi vì đã gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai tên chống cộng "điên cuồng" nhất.
Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, địch lại pháo vào Biên Hòa, lần này chúng pháo rất mạnh và chính xác. Tôi đoán chúng định tấn công dứt điểm Biên Hoà sau khi đã chiếm được Long Bình. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến Ðoàn Thiết Giáp vào trận đánh quyết định, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 đoàn chiến xa dẫn đầu, bộ binh theo sau, liền bị Chiến Ðoàn 315 đánh chận đầu và bọc sườn, chúng bèn rút chạy ngược ra xa lộ. Kể từ đó, thị xã Biên Hòa trở nên yên tĩnh.
Ðúng 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu để liên lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không được. Tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðơn Vị Trưởng Yểm Trợ. Chúng tôi trao đổi tin tức và thảo luận tình hình ở mặt trận, tình hình trong thành phố Biên Hòa. Áp lực địch bên ngoài không còn nữa. Chung quanh bên ngoài thị xã, chỉ có hoạt động lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Ðặc biệt đêm qua, tôi có cho tăng cường canh giữ nhà giam Biên Hòa. Không có tình trạng dân chúng xuống đường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có tình trạng đào ngũ. Tuyệt nhiên cũng không có tình trạng hãm hiếp cướp bóc trong thành phố, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong đêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SÐ18BB rã ngũ định chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại, đuổi họ trở ra, cương quyết không cho vào thành phố đang giới nghiêm vì sợ có tình trạng gây mất tinh thần rã ngũ giây truyền như đã xảy ra ở miền Trung trước đây.
Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: "Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn." Tất cả các Ðơn Vị Trưởng ủng hộ quyết định này của tôi.
Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và điều động Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III tiến về Sài Gòn theo kế hoạch sau đây: Lấy đường xe lửa Biên Hòa-Sài Gòn và xa lộ Ðại Hàn làm hai trục tiến quân chính.
a) Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn) do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải đường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên phải đường sắt, chờ lệnh.
b) Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái đường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên trái đường sắt, chờ lệnh.
c) Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh + Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND và TQLC rời vị trí phòng thủ, rút an toàn qua Câu Mới Biên Hòa trước. Sau đó, lấy xa lộ Ðại Hàn làm trục chính, tiến về Sài Gòn theo thứ tự như sau:
- Chiến Ðoàn 315 do Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo chỉ huy: Ði trước, đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí bên này cầu Bình Triệu, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên (TG) chỉ huy: Ði sau CÐ 315, đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí sau CÐ 315, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Ðức Dương chỉ huy: Ði sau cùng, đến Sài Gòn, bố trí sau BTL và Ðơn Vị Yểm Trợ, chờ lệnh.
Trước khi lên trực thăng Chỉ Huy, tôi duyệt đoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời thành phố Biên Hòa trong vòng trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước đây khi còn Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00 ngày 30-4-75.
Tôi lên trực thăng Chỉ Huy của Tướng Toàn do Thiếu Tá Cơ lái, chiếc trực thăng Chỉ Huy thư hai bay theo sau. Tôi cho trực thăng bay lượn trên thành phố Biên Hòa, quan sát thấy tình hình bên dưới vẫn yên tĩnh. Các cánh quân ta vẫn tiến đều đặn về hướng Sài Gòn. Những ổ kháng cự, những chốt của địch dọc trên trục tiến quân của ta bị đè bẹp hoặc bị nhổ nhanh chóng. Tôi đang suy nghĩ và lo lắng. Tôi lo vì không liên lạc được với Sài Gòn, khi quân ta về đến nơi, sợ quân bạn ở Biệt Khu Thủ Ðô bắn lầm. Tôi đang miên man suy nghĩ cách đối phó thì đột nhiên Thiếu Tá Cơ hỏi tôi: "Thiếu Tướng có muốn ra đi không? Tôi sẽ đưa Thiếu Tướng đi." Tôi liền hỏi lại: "Còn anh thì sao?" "Khi đưa Thiếu Tướng đi xong, tôi sẽ trở về, tôi sẽ ở lại với vợ con còn ở Biên Hòạ" "Cám ơn anh, tôi cũng ở lại với anh em. Tôi đã quyết định việc này từ lâu rồi."
Chúng tôi bay về hướng Gò Vấp, tôi biểu Cơ lấy cao độ. Xa xa phía dưới, tôi thấy những đoàn quân xa chở đầy quân, những chiến xa, những pháo kéo của quân cộng sản BV như những con rắn dài trên xa lộ Biên Hòa và trên Quốc Lộ 13 bò vô Sài Gòn. Hai trực thăng của chúng tôi đáp xuống trại Phủ Ðổng nơi đặt BCH TGB và BTL/Quân Ðoàn III. Tôi vội đi vào văn phòng tìm sĩ quan trực. Tôi thấy các nhân viên văn phòng chạy qua lại nhớn nhác. Tôi không gặp một ai có thẩm quyền, chỉ có 1 Trung Úy mang huy hiệu Quân Ðoàn III, tôi nói tôi muốn sử dụng điện thoại để liên lạc với BTL Biệt Khu Thủ Ðô báo cho họ biết gấp các cánh quân của tôi sắp về tới cửa ngõ Bắc Sài Gòn để tránh bắn lầm nhau. Tôi gọi nhiều lần, gọi một cách tuyệt vọng, không có ai ở đầu máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc được. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt đạn pháo binh địch nổ ở hướng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của tôi cũng vừa đến Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima.
Trong khi tôi đang lúng túng trong việc liên lạc với BKTÐ và Bộ Tổng Tham Mưu, thì thình lình tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng Thống Dương Văn Minh phát ra từ một máy thu thanh đâu đấy. Tôi nhìn đồng hồ tay: 10 giờ 25 phút.
Thế là hết. Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của mình và xem nhiệm vụ của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III đến đây là kết thúc. Tôi để cho các đơn vị tự động buông vũ khí đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống. Tôi không có gì để nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu đã cùng tôi chiến đấu đến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tròn khí tiết của người chiến sĩ đối với Quân Ðội và Tổ Quốc.
3. Quan Ðiểm và Kết Luận
Sau khi ngưng chiến theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, tôi bị địch bắt, truy vấn, tù đầy 17 năm và sang Mỹ năm 1993 theo diện tỵ nạn chính trị. Mỗi năm cứ đến ngày 30-4, tôi đọc đi đọc lại nhiều bài viết của bên Cộng Sản cũng như của bên ta về cuộc chiến tranh Việt Nam. Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Ðặc biết khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của MNVN, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh BTL/Quân Ðoàn III và V3CT, đầu não của bộ máy quân sự miền Ðông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Ðể mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam Việt Nam. Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày. Vả lại khi viết về cuộc chiến tranh mà mình là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải nói nhiều rất nhiều về mình, cái mà tôi không hề thích vì như Pascal nói: "Cái tôi là đáng ghét" (Le moi est haissable). Nhưng anh Nguyễn Minh Tánh đã viết sai sự thật về LÐ3KB do tôi chỉ huy, đã xúc phạm đến DANH DỰ của chúng tôi nên tôi có bổn phận với những ngưỡi đã hy sinh và những người còn sống, phải cải chính và nói lại cho rõ để không phụ lòng những chiến sĩ anh hùng đã cùng tôi chấp nhận ở lại chiến đấu đến cùng.
Những năm đầu trong ngục tù, cán bộ Cộng Sản luôn truy vấn tôi kịch liệt. Chúng làm tổng kết chiến trang để rút kinh nghiệm chiến trường, chúng ngạc nhiên trước sức chiến đấu của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích nQuân Ðoàn III, đặc biết chúng bắt tôi viết đề tài Những nguyên nhân nào mà LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III do tôi chỉ huy không bị tan rã trước sức tấn công của Quân Ðội Cách Mạng.
Chính miệng chúng nói với tôi: "Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III là đại đơn vị duy nhất của Quân Ðội Sài Gòn chiến đấu tới cùng cho đến khi có lệnh ngưng bắn." Chúng kể ra những thành tích chiến đấu của Chiến Ðoàn 318 trên chiến trường Campuchia thời Tướng Ðỗ Cao Trí của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III mà chúng gọi là những tội ác "Trời không dung Ðất không tha" và kết tội tôi đã kéo dài chiến tranh nhiều năm.
Chúng đã chọn và định đưa một số chúng tôi ra Tòa Án Chiến Tranh của chúng xét xử như những tội phạm chiến tranh nếu không có áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Cộng Ðồng thế giới tự do cũng như của dư luận Quốc Tế lúc bấy giờ.
Tôi không hề ân hận việc mình đã làm, không hề hối tiếc hay than van về những hậu quả mà mình phải gánh chịu sau khi bị bắt. Nếu phải làm lại từ đầu, thì tôi cũng vẫn làm như thế. Tôi biết rằng làm như thế là tôi mất tất cả, mất tất cả trừ DANH DỰ.
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Virginia ngày 16/6/1995
ngay09
07-25-2007, 12:07 AM
Biên Khảo:
NGÀY QUÂN LỰC
Bùi Đức Lạc
LTS: Bài này đã được tác giả viết lần đầu năm 1987, đăng trên tuần báo Chuông Việt dưới bút hiệu Chính Nhân, nay được hoàn chỉnh lại, với hy vọng không làm phiền lòng người đọc.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được chính thức khai sinh vào những ngày tháng cuối năm 1954, sau ngày 20-7-1954 tức là ngày hiệp định Genève được ký kết giữa Pháp và Cộng Sản Việt Nam. Cho mãi tới ngày 1-12-1954, các cấp chỉ huy Việt Nam lần lượt nhận lãnh quyền chỉ huy các Quân Binh Chủng (chủ quyền) từ tay người Pháp; Thiếu Tướng Nguyễn văn Vỹ được bổ nhiệm làm Tổng Thanh Tra Quân Đội, thay thế Thiếu Tướng Alessandri; Thiếu Tướng Lê văn Tỵ được bổ nhiệm làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thay thế Trung Tướng Nguyễn văn Hinh; Nhưng mãi tới ngày 29 tháng 12 năm 1954 mới có hiệp ước chính thức chấm dứt chế độ Quốc Gia Liên Kết “ Quadripartisme”(chế độ này được khai sinh từ ngày quân Pháp theo chân Đồng Minh chiếm lại Đông Dương sau đệ nhị Thế Chiến) và cũng hủy bỏ hiệp định “Pau” năm 1950. Kể từ lúc đó các cơ sở Hành Chánh, Cảnh Sát, Công An và các cơ quan Tư Pháp cũng được trao trả lại chủ quyền cho người Việt Nam.
Cũng từ ngày 29-12-1954 Bộ Tham Mưu hỗn hợp Việt Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, vào đầu năm 1956 các Bộ Tư Lệnh Quân khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn; vào đầu năm 1958 các đơn vị Sư Đoàn Khinh Chiến, Dã Chiến cũng dần dà được canh tân thành các Sư Đoàn Bộ Binh; vào cuối năm 1965 các Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân Quân Đội được bàng trướng thành các Sư Đoàn Tổng Trừ Bị; các Đại Đội Biệt Động Quân được thành lập thành Tiểu Đoàn rồi Liên Đoàn rồi Sư Đoàn vào năm 1975, các đơn vị Thiết Giáp cấp Chi Đoàn, Thiết Đoàn được canh tân, hiện đại hoá bằng những thiết giáp tân tiến và tăng trưởng thành các Thiết Đoàn, Trung Đoàn Thiết Giáp; các Chiến Hạm Hải Quân cũ kỹ do quân đội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hơn, đồng thời aò ạt nhận thêm chiến hạm mới các phòng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn được thành lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng; các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những Phản Lực cơ siêu âm rồi các Phi Đoàn, Sư Đoàn Không Quân ra đời; các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu cuả chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến. Chính vì vậy mà một vị Tướng lãnh tên tuổi ngoại Quốc (chúng ta thường có tinh thần vọng ngoại) đã phải tuyên bố xác nhận rằng : Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân lực tinh nhuệ và hùng hậu đứng vào hàng thứ năm trên thế giới.
Cũng từ năm đó, năm 1960 là năm mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu chao đảo theo tham vọng của một số các cấp chỉ huy, Quân Lực đã bị lợi dụng bởi tham vọng cá nhân, có khi còn bị lèo lái theo tướng số, bói toán và tử vi nữa.
Năm 1963 cơn bão loạn chính trị được khơi dậy bằng những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, Phật Tử và còn một điều quyết định là theo dấu chỉ cuả đèn xanh Quốc Tế. Trung Tướng Dương văn Minh số đông các Tướng Lãnh và một số Sĩ Quan Trung Cấp đang nắm quyền chỉ huy các đơn vị chung quanh Thủ Đô Sài Gòn đã lật đổ chính phủ dân cử ngày 1-11-1963; Kết quả là hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị thảm sát trên thiết vận xa M113 ngay trong lòng Thủ Đô Sài Gòn-Chợ Lớn.
Ngày 18 tháng 11 năm 1963 Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Trung Tá Vương văn Đông sau ba năm bôn ba nước ngoài vì đảo chánh không thành trở về nước.
Ngày 23 tháng 11 năm 1963 Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy bị ám sát tại Dallas tiểu bang Texas, phó tổng thống L. Johnson lên thay.
Hơn một tháng say mê trên chiến thắng (Cách Mạng) một Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng được thành lập do Trung Tướng Dương văn Minh làm Chủ Tịch, các ủy viên gồm các Trung Tướng Trần văn Đôn, Tôn thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Phạm xuân Chiểu, Lê văn Kim, Lê văn Nghiêm, Mai hữu Xuân, Trần văn Minh; các Thiếu Tướng Đỗ Mậu, Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn hữu Có; Đồng thời Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng chỉ định Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người đã đánh lừa Ba Cụt hứa nếu về đầu hàng chính phủ sẽ được khoan hồng nhưng khi Ba Cụt về đầu hàng lại cho một toán quân phục kích bắt sống Ba Cụt rồi đem xử tử ) thành lập chính phủ; Nhưng thay vì mở rộng cho các đảng phái tham gia tham chính thì chính phủ cuả Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ lại là một Chính Phủ bè phái chia rẽ rõ rệt, nhất là sự hiện cuả nhóm sĩ quan Đại Việt như Đại Tá Đỗ Kiến Nhiễu đổng lý văn phòng Quốc Trưởng Dương Văn Minh, Đại Tá Nhan Minh Trang chánh võ Phòng Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Đại Tá Nguyễn Văn Quang giám đốc nha An Ninh Quân Đội, Đại Tá Dương Hiếu Nghiã chỉ huy trưởng Thiết Giáp Binh, Đại Tá Hùynh Văn Tồn tỉnh trưởng Gia Định, nhóm này chủ trương lật đổ chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ và mời lãnh tụ Đại Việt là Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đang sống lưu vong bên Pháp về lập chính phủ.
Nhưng âm mưu của nhóm này chưa kịp thi hành, thì bị Trung Tướng Trần Thiện Khiêm tư lệnh Quân Đoàn III phối hợp cùng Trung Tướng Nguyễn Khánh tư lệnh Quân Đoàn I, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi tư lệnh phó Quân Đoàn I dùng ưu thế trong Quân Đội dập tắt, trong phiên họp ngày 12-12-1963 tại Sài Gòn quyết định ngày 31-1-1964 lật đổ chính phủ cuả Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, quan trọng hơn nữa là trong phiên họp này quyết định bắt giam tất cả các Tướng Lãnh chủ mưu cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và chụp cho nhóm nàyï cái mũ là chủ trương Trung Lập, (cho đến ngày hôm nay cũng chưa có bằng cớ xác thực), ỡm ờ vẫn giữ Trung Tướng Dương Văn Minh người cầm đầu cuộc đảo chánh ở lại làm Tổng Thống, Trung Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ Tướng, thành lập hội đồng Nhân Sĩ gồm 60 vị, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đổi tên thành Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, Trung Tướng Nguyễn Khánh làm chủ tịch thay thế Trung Tướng Dương văn Minh, rồi đến Tam Đầu Chế (bù nhìn). Tướng Nguyễn Khánh thao túng sân khấu chính trị làm cho Quân Đội hoang mang, Dân Chúng hoài nghi, và nhìn tất cả các tuồng diễn trên sân khấu cải lương chính trị tại Sài Gòn lúc bấy giờ, như một màn bi kịch của thời đại.
Tướng Khánh làm nhiều trò rất ngoạn mục như hiến chương Vũng Tầu, Tam Đầu Chế (Nguyễn Khánh, Dương văn Minh, Phan khắc Sửu) phong cho ông Trần Văn Hương làm Thủ Tướng và một Thượng Hội Đồng Quốc Gia làm cố vấn (bù nhìn) cho chính phủ, vì Thượng Hội Đồng Quốc Gia không chiụ làm bù nhìn cho nên Tướng Nguyễn Khánh bắt giam các giới chức trong Thượng Hội Đồng này gồm cả nhà cách mạng Nguyễn Văn Lực (thân phụ cuả phi công Nguyễn văn Cử).
Ngày 7 tháng 6 năm 1964 Công giáo biểu tình chống chính phủ rất qui mô tại công trường Lam Sơn.
Ngày 2 tháng 8 năm 1964 chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ tuần tiễu ở vịnh Bắc Việt bị tầu tuần tiễu Bắc Viết phóng ngư lôi tấn công, ba ngày sau tầu Mỹ lại bị tấn công, Phi cơ Mỹ trả đũa oanh tạc các tầu chiến và các vị trí quân sư tại ven biển Bắc Việt.
Ngày 26 tháng 8 năm 1964 ẩu đả giữa hai nhóm nhỏ Phật Giáo và Thiên Chúa giáo tại khu Thanh Bồ Đà Nẵng làm 11 người chết, 42 người bị thương, một số nhà bị đốt. Tại Sài Gòn cũng bùng lên tình trạng Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo kình chống nhau, Linh Mục Hồ văn Vui và Thượng Tọa Thích tuệ Đăng phải ra tận nơi biểu tình của hai bên đang đối đầu nhau để hòa giải mới ổn định được tình hình, có tin cho rằng các cuộc chống chọi giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo là do Cộng Sản giật dây, cả hai bên chỉ vì thiếu suy xét, chút xíu trở thành đại họa cho đất nước, bài học này ngày nay vẫn còn nóng hổi.
Ngày 8 tháng 9 năm 1964 Tướng Nguyễn Khánh lại thành lập Thượng Hội Đồng Quốc Gia với nhiệm vụ triệu tập Quốc Dân Đại Hội, soạn thảo Hiến Chương, nhưng sau đó lại bị giải tán.
Ngày 13 tháng 9 năm 1964 Đảng Đại Việt đảo chánh, do Đại Tá Hùynh văn Tồn Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và Trung Tướng Dương văn Đức Tư Lệnh Quân Đoàn IV (bên ngoài ai cũng tưởng đây là cuộc đảo chánh do Tướng Đức chủ mưu, nhưng không phải như vậy mà sự thật chủ mưu cuộc Đảo chánh này là do nhóm Sĩ Quan Đại Việt; Tướng Dương văn Đức thuần túy là một quân nhân, ông cương trực thắng thắn nên dễ bị lợi dụng ) Tướng Nguyễn văn Thiệu lúc đó đang làm Tham Mưu Trưởng liên quân, tại Bộ Tổng Tham Mưu không có quân trong tay nên phải cầu cứu với Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi tư lệnh Sư Doàn 1 Bộ Binh về Sài Gòn để phản công; Tướng Thi nhờ vào uy tín và sự quen biết với các vị Tư Lệnh hai Binh Chủng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến cũng như Quân Chủng Không Quân nên ông đã chỉ huy phản công, dẹp Đảo chánh thành công rất dễ dàng.
Ngày 1 tháng 11 năm 1964 Ông Trần văn Hương được đề cử làm Thủ Tướng chánh phủ, nhưng không được bao lâu bị chống đối mạnh mẽ từ khối sinh viên Phật Tử.
Ngày 16 tháng 2 năm 1965 sau hơn ba tháng cầm quyền Thủ Tướng Trần văn Hương từ chức, rối loạn lại càng rối loạn hơn.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965 Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo lại làm thêm màn bi kịch đảo chánh trên sân khấu Sài Gòn, nhưng cũng lại bị Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Đoàn I phối hợp cùng Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ Tư Lệnh Không Quân dẹp tan, nhân dịp này Tướng Nguyễn Chánh Thi với danh nghiã là Tư Lệnh Quân Đoàn Giải Phóng Thủ Đô đã yêu cầu Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu giải nhiệm Tướng Nguyễn Khánh, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH được giao cho Trung Tướng Trần Văn Minh và ép buộc tướng Nguyễn Khánh phải xuất ngoại trị bệnh. (căn bệnh này là căn bệnh truyền nhiễm)
Ngày 25 tháng 2 năm 1965 Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong sau hơn một năm khuấy động,trước khi bước chân lên máy bay ông cầm một nắm đất và tuyên bố “Tôi đem theo đất nước Việt Nam với tôi và tôi còn trẻ tôi sẽ trở lại đất nước khi có cơ hội” .
Cũng ngày 25 tháng 2 tnăm 1965 Thủ Tướng Phan Huy Quát thành lập chánh phủ, Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu phó Thủ Tướng nhưng lại bị khối Công Giáo biểu tình chống đối, nên chánh phủ Phan Huy Quát phải giải tán sau gần bốn tháng cầm quyền đầy rối loạn, đồng thời Quốc Trưởng Phan khắc Sửu cũng nhận thấy ngôi vị của mình không có thực quyền nên đã cùng Thủ Tướng Quát thỏa thuận là nên trao quyền hành điều khiển Quốc Gia lại cho Quân Đội, sự thực các chính phủ dân sự không còn lối thoát, họ không do dân bầu mà do sự chỉ định, khi lên hay xuống cũng do chỉ định mà thôi cho nên họ hoàn toàn bất lực, không có một chút uy quyền nào.
Ngày 8 tháng 3 năm 1965 hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng, đây là đơn vị đẩu tiên của quân đội Hoa Kỳ chính thức tham chiến tại Việt Nam.
Tới đầu tháng 6 năm 1965 mọi việc đều rõ ràng, trong tình thế rối loạn này, nếu Quân Đội không nhận lãnh tạm thời điều khiển quốc gia, để tổ chức bầu cử chọn người lãnh đạo quốc gia, thì không một cá nhân hay đảng phái nào có thể đảm nhận vai trò điều khiển Quốc Gia trong giai đoạn nhiễu nhương này được.
Cho nên ngày 6 tháng 6 năm 1965 Hội Đồng Quân Lực đã nhóm họp khẩn cấp, cuộc họp này hoàn toàn do các Tướng lãnh Việt Nam chủ động, và kết quả là vẫn không bầu được một cơ cấu sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm điều khiển Quốc Gia.
Ngày 11 tháng 6 năm 1965 cuộc họp giữa chính phủ dân sự chỉ định và Hội Đồng Quân Lực từ 9:00 giờ tối cho đến 3:00 giờ sáng ngày 12 tháng 6; Trong buổi họp này Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đồng loạt từ chức giao quyền hành cho Hội Đồng Quân Lực, mọi người đồng ý chờ quân đội chọn người, sau đó mới chọn ngày bàn giao chính thức, cuộc họp lịch sử này do sự thúc đẩy của Hoa Kỳ nhưng hoàn toàn không chịu áp lực của Hoa Kỳ, chương trình nghị sự hoàn toàn độc lập.
Ngày 12 tháng 6 năm 1965 các vị Tướng Lãnh và những vị có chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn trở lên họp từ 9:00 giờ sáng cho đến 9:00 giờ tối tại Bộ Tư Lệnh Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến dưới sự canh gác vô cùng cẩn mật; Cuộc họp bàn cãi rất sôi nổi về việc chọn một người ra điều khiển Quốc Gia với danh xưng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, không ai tình nguyện, nên các vị sau đây lần lượt được đề cử : - Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu - Trung Tướng Nguyễn hữu Có - Trung Tướng Nguyễn chánh Thi - Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ
Lúc đầu Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Có từ chối quyết liệt , sau đó Trung Tướng Thi cũng từ chối cuối cùng Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ nhận lãnh, sau cùng đi tới kết quả thành phần lãnh đạo như sau:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu Tham Mưu Trưởng Liên Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng).
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư lệnh Không Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng).
Đồng thời các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng được lần lượt thay thế bằng các quân nhân (không có kinh nghiệm về hành chánh và cai quản) và lấy tên là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Tỉnh hay Quận.........
Nhưng để có thời gian chuẩn bị thành lập nội các, cho nên đến ngày 19 tháng 6 năm 1965, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương mới chính thức tuyên bố nhận lãnh trách nhiệm lèo lái Quốc Gia và tuyên bố thành phần nội các; cùng quyết định tăng phụ cấp cho binh sĩ; cũng như chọn ngày 19 thang 6 là ngày Quân Lực (Hiện nay tại hải ngoại các cựu Quân Nhân chúng ta phải giữ ngày này là giềng mối để nắm tay nhau, công kích ngày Quân Lực là mục đích tiếp tay cho kẻ thù chung của Dân Tộc, gây chia rẽ trong hàng ngũ Quân Nhân; Cũng như công kích bản Quốc Ca của chúng ta là mục đích gây chia rẽ trong hàng ngũ Quốc Gia, gây xáo trộn trong cuộc sống đầy ưu phiền nghi kỵ, cả hai tình huống quan trọng này, một bên chống một bên thuận là cả Cộng Đồng Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản phải tan nát khó hàn gắn, bây giờ không phải là lúc bàn đến việc thay đổi điên rồ này, nếu chúng ta suy nghĩ chín chắn thì chúng ta phải đón nhận như trong gia phả vậy, hay giở cũng là của tiền nhân để lại, phải chấp nhận đễ làm bài học quý giá sau này, tốt hay xấu thì cũng là tấm gương soi để noi theo hay sửa chữa, con cháu chúng ta cần học hỏi trong cả bài học hay cũng như bài học dở, từ cổ chí kim không có một quốc gia nào, hay một vị nguyên thủ nào hoàn hảo cả) .
Năm 1965 cũng chính là năm mà Cộng Sản Việt Nam nhận định rằng : Sau gần hai năm lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm các Tướng lãnh đã lo tranh giành quyền lực không chú ý gì đến quyền lợi của Quốc Gia Dân Tộc, không còn chú ý đến nhiệm vụ chính là Hành Quân bảo vệ dân, tiễu trừ Cộng Sản nữa. Nắm cơ hội này chúng đã gửi các Sư Đoàn Chính Quy ào ạt Nam Tiến với mục đích là thôn tính trọn miền Nam; Nhìn rõ ý đồ đó nên Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson đã quyết định đổ bộ các đại đơn vị Hoa Kỳ vào tham chiến kịp thời, nếu không QLVNCH với vũ khí lúc đó còn thô sơ (Garant, carbine và đại liên 30 ) khó có thể ngăn cản sự tấn công cuả đạo quân được trang bị tối tân hơn ( AK 47, B40, B41 và hoả tiễn điều khiển điạ điạ cũng như điạ không ). Tuy vậy QLVNCH cũng phản tỉnh sau hai năm mơ màng nên lệnh tổng động viên được ban hành, Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm cấp thời được bổ nhiệm làm Giám Đốc Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng để thi hành lệnh Tổng Động Viên trước tình thế khẩn trương của đất nước, các Quân Binh Chủng cũng được bành trướng chẳng hạn như Lữ Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến được thành lập thành Sư Đoàn.
Năm 1966 là năm đầu tiên lấy ngày 19-6 là ngày QUÂN LỰC; Một cuộc diễn binh rất quy mô trên đường Trần Hưng Đạo Thành Phố Sài Gòn Chợ Lớn, dưới đất các đoàn quân anh hùng lần lượt đi qua khán đài, trên trời các phi cơ đủ loại biểu diễn ngoạn mục mang lại niềm tin ở sức mạnh cuả Quân Đội cho dân chúng, nhất là sau một năm tình hình chính trị và quân sự được ổn định dân chúng lại càng an lòng hơn.
Ngày 19-6-1975 không một nơi nào trên trái đất này tổ chức ngày Quân Lực cho QLVNCH, nhưng chắc chắn nó được âm thầm tưởng nhớ trong trí trong tâm cuả các quân nhân còn đang bàng hoàng trước cơn đại nạn cuả đất nước; để rồi người may mắn phiêu bạt khắp Năm Châu, người kém may mắn đang trong các lao tù Cộng Sản, người kiên cường bất Khuất đang hiên ngang chiến đấu trong lòng đất mẹ Việt Nam. Nhưng dù ở phương trời nào hoàn cảnh nào các quân nhân QLVNCH lúc nào cũng một lòng son sắt quyết tâm sẽ tổ chức ngày Quân Lực rạng rỡ trên quê hương Việt Nam Mến Yêu.
Trên một phần tư thế kỷ, biết bao nhiêu đau thươmg chồng chất, biết bao nhiêu khổ aỉ cực hình, biết bao nhiêu tan vỡ tận cùng mang theo những chia lià ngăn cách để lại cho chúng ta những khắc khoải mong chờ ngày quang phục quê hương, mục tiêu hợp quần những người cựu Quân Nhân QLVNCH chưa nắm trọn trong tay, vì chúng ta còn lấn cấn trong những thủ đoạn ma mãnh mưu cầu lợi ích riêng tư cho một đơn vị hay cho một nhóm, mà chưa nhận điện được những lợi ích chung cho cộng đồng cho xứ sở!!!!!! kèm theo chúng ta đang bị quân thù cài người đánh phá, vì vậy khối Quân Nhân phải cực kỳ sáng suốt mới nhận rõ được quân thù, nếu chúng ta không nắm tay cùng nhau, chúng ta sẽ bị lịch sử lên án nặng nề, về những việc làm hiện tại của chúng ta, chúng ta thật sự thua trận giặc vừa qua, để lại một dân tộc vốn kiêu hùng, nhưng trớ trêu thay đang làm nô lệ cho chính những người cùng huyết tộc, hơn thế nữa tiếp tục ngày hôm nay chúng ta đang thua trận giặc tàn khốc hơn đó là trận giặc làm tay sai, trận giặc chia rẽ do quân thù điều khiển, và bị xúi bẩy bởi những người không một ngày cầm súng, hoặc còn tệ hại hơn nữa, chính họ là những người đã chỉ điểm cho quân thù tiêu diệt chúng ta, chúng ta thật sự đang làm nhơ bộ chinh y của chính chúng ta, đau đớn thay.
Xin Hồn Thiêng Sông Núi xin tinh anh của Giòng Giống Tiên Rồng dẫn dắt con cháu Lạc Hồng biết tương nhượng nhau, xích lại gần nhau và biết cùng nhau nhìn về quê hương bên kia bờ đại dương, cùng đau trong niềm đau chung của Dân Tộc.,.
Bùi Ðức Lạc
ngay09
07-25-2007, 12:08 AM
Hồi Ký:
CUỘC ÐỔ BỘ TRONG LÒNG ÐỊCH
Tác Giả: Trung Tá Nguyễn Ðăng Hòa
Kể từ sau cuộc đổ bộ bằng trực thăng của Tiểu đoàn 1 Quái Điểu vào ngày 11/7/72, tại quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, chưa một ai viết lại cuộc đổ bộ ấy, và tôi nghĩ nếu tôi không viết để nói lên cuộc chiến đấu ác liệt, oai hùng này thì ai có thể viết thay tôi ? Vì như tôi đã trình bày trong tập Hồi ký CƠN LỐC DÀI, hơn 1OO ông phóng viên thế giới, không một ông nhà báo nào dám "thi thố tài năng" đi theo chúng tôi cả. Cũng như 2 nữ phóng viên chiến trường Việt Nam là Kiều Mỹ Duyên và Lam Thiên Hương một thời ngang dọc đã lắc đầu khi tôi mời 2 cô đi "du ngoạn". Nỗi danh thì cũng muốn, nhưng nghĩ đến mạng sống như "chỉ mành treo chuông" 2 cô vừa cười vừa nói: "Thôi, tui chẳng ham đâu".
Như có một thôi thúc, ray rứt nào đó buộc tôi phải viết để nói lên sự thật oai hùng của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đã tạo được trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cho phép tôi được làm một nhân chứng lịch sử để tô đậm thêm Quân sử hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
* * * * *
... Phá Tam Giang vào một sáng mù sương 11/7/72
Dù đang là mùa hè nhưng trời Huế vẫn còn sương mù, một làn khói mỏng giăng đầy, bao phủ cả một vùng Vân Trình rộng lớn. Trên cánh đồng vừa mới gặt, mùi rạ thơm thoang thoảng, nếu có thêm vài cô thôn nữ xinh xắn của mẹ Việt Nam nữa là ta đã có một hình ảnh đồng quê thanh bình của bao năm cũ. .. Gia đình Quái Điểu hơn 700 tay súng đã sẵn sàng tại bãi bốc chờ lên trực thăng đi vào đất đi.ch. Những chàng Kinh Kha thời đại đang ưu tư về cuộc đời và đang chờ đón một tương lai không mấy rạng rỡ.
Đúng 7 giờ sáng, chiếc trực thăng UH-1B của chỉ huy đáp xuống cạnh nhà thờ 2 chuông Điền Môn, bốc tôi và cố vấn Mỹ bay thẳng ra biển Đông. Để tránh phòng không địch, trực thăng đã phải bay trên biển và ở cao độ vừa tầm cho chúng tôi quan sát thành phố Quảng Trị và quận lỳ Triệu Phong, nơi Tiểu đoàn 1 Quái Điểu sẽ phải đổ bộ để tái chiếm.
Quận Triệu Phong nằm về phía Đông Bắc cổ thành Quảng Trị khoảng 2 cây số, là quê hương của tên đồ tể Lê Duẩn, môn đệ kế vị già Hồ đã về chầu Diêm Vương. Vì vậy không dễ gì địch để chúng tôi tái chiếm lại Triệu Phong.
Những túi lửa B.52 chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số được lóe lên từng chập, và khi các chùm bom chạm đất thì lửa bốc cháy cùng những tiếng nổ phụ rền vang một góc trời ... Tại đây địch cũng sẵn sàng nghêng đón chúng tôi. Đơn vị bạn gần nhất vẫn còn ở tuyến sau Mỹ Chánh mịt mù. Chúng tôi sẽ phải nhảy trên đầu địch, đánh thọc sâu vào lòng địch, bóp ngay yết hầu chúng, buộc chúng phải nhả Cổ thành Quảng Trị mà chúng đã chiếm giữ hơn 3 tháng qua. Sư đoàn Dù đã gặp phải muôn vàn khó khăn và thiệt hại nặng nề khi tái chiếm Quảng Tri.
Có lẽ thượng cấp quên đi cửa ngõ Triệu Phong, nơi mà Việt cộng phải giữ với bất cứ giá nào, để bảo vệ huyết lộ dẫn ra Cửa Việt bằng đường bộ và đường thủy dọc theo sông Thạch Hãn. Nhờ huyết lộ này mà chúng có thể tiếp tế cũng như tải thương và thay quân rất dễ dàng.
Đúng 12 giờ 5 phút ngày 11/7/72, ngày mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trước khi lên máy bay, Tướng Trưởng và Tướng Lân đến bắt tay và chúc chúng tôi thành công. Lời nói của Tướng Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến như một luồng điện chạy dài theo xương sống tôi:
- Danh dự này, tôi giao cho anh và Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.
Riêng Đại tá Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 nhìn chúng tôi như một người cha nhìn những đứa con thân yêu đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông rơi nước mắt nói với tôi lời giã biệt:
- Mày cố gắng giữ gìn anh em, khuyên họ nên đọc kinh cầu nguyện theo đạo giáo của họ!
Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến với biệt danh Quái Điểu được trực thăng bốc từ nhà thờ 2 chuông Điền Môn bay ra Triệu Phong, bất thần đổ trên đầu địch, giữa những đám ruộng trước quận lỵ. Tuy bãi đáp đã được B.52 "dọn cỏ" suốt 2 tiếng đồng hồ, với 33 phi vụ đã cày nát từ Đông Hà đến Quảng Trị, mà gia đình Quái Điểu vẫn được con cháu Bác và Đảng dàn chào long trọng. Súng phòng không 23 và 37 của địch bắn lên như pháo bông.
Đại đội 4 Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trịnh Văn Thềm chỉ huy, lãnh nhiệm vụ đổ bộ trước. Hai chiếc trực thăng khổng lồ CH.54 chạm đất một cách bất ngờ nên thoát được phòng không địch. Có 32 chiếc trực thăng đổ quân, gồm 17 chiếc CH-53 (loại Chinook Mỹ dùng để cứu con tin tại Iran) chở được 60 người và CH-46 loại Chinook chở được 20 người. Chiếc tôi đi bị lãnh 4 viên phòng không, tưởng chừng như rớt. Vừa rời khỏi trực thăng, tôi đã được chào mừng bằng một trái 57 ly không giật, vì chung quanh tôi là một rừng antenne truyền tin. Tôi bị thương ở đùi phải, máu ướt đẫm. Viên Trung úy Hải quân Mỹ bị lòi ruột ra ngoài trông thật khiếp, nhưng vẫn còn sống. Đau đớn cho Tiểu đoàn chúng tôi là 1 chiếc trực thăng bị rớt và nổ tung sau đó 2 phút lại chở nguyên Trung đội Quân y, 60 người chỉ sống sót 12 trong đó có Bác sĩ Hoàn. Ông đã lao được ra ngoài cửa cấp cứu, nhưng phải 2 ngày sau mới bò về được Bộ chỉ huy Tiểu đoàn với thân hình cháy phỏng nặng. Chúng tôi không lấy được xác những người bị chết vì chiếc máy bay này thuộc Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và đã mang theo 47 trái mìn chống chiến xa và tất cả đã tan tành theo chiếc máy baỵ. Đáng lẽ tôi đã gởi xác theo chuyến đó rồi, nhưng tới phút chót cố vấn Mỹ lại rủ tôi đi trên chiếc CH-46 để khi xuống bãi thoát ra thật nhanh, tránh được phòng không địch.
Ngay phút đầu, sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, chúng tôi đã bị thiệt hại hơn 200 người vừa chết vừa bị thương. Người cố vấn Mỹ còn cho tôi biết trong số 32 máy bay trực thăng, có 29 chiếc trúng đạn và 2 chiếc rớt, một nổ tại chỗ và một rớt ngoài biển. Cuộc đổ bộ này đã được báo chí xem như cuộc đổ bộ Inchon tại Đại Hàn năm xưa. Tướng Lân được triệu về dinh Độc Lập để thuyết trình về cuộc đổ quân cho Hội đồng An ninh Quốc Gia. Mọi người hồi hộp theo dõi bước chân của bầy Quái Điểu gan lì.
Cánh đồng Triệu Phong đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Xe tăng Việt cộng phối hợp với bộ binh của chúng bắt đầu rời vị trí phòng thủ để rượt đánh chúng tôi, và những chiếc trực thăng vũ trang "Cobra" của phe ta đã táo bạo săn đuổi chúng như những con diều hâu hung dữ. Riêng Tiểu đoàn 1 Quái Điểu lúc bấy giờ tan tác như bầy gà lạc mẹ, mạnh ai nấy đánh, dùng chiến thuật cá nhân phối hợp từng tổ nhỏ cố bám lấy bờ sông Vĩnh Định là chi nhánh của sông Thạch Hãn để làm điểm tựa, giữ lấy mạng sống mong manh. Hai con sông này đã nuôi dưỡng quận lỵ Triệu Phong, làm cho nó trở nên trù phú và sầm uất nhất tỉnh Quảng Trị, giờ đây đang ôm ấp che chở cho những toán Quái Điểu lạc bầỵ
Nhờ vào súng M.72 chống chiến xa ta đã bắn hạ được một số tăng địch, có những chiếc bốc cháy cách xa ta chỉ 50 thước, làm cho anh em an tâm hơn và tin tưởng vào loại vũ khí cá nhân hiện đại và tối tân này, mỗi Đại đội chỉ được trang bị 12 trái thôi. Những hố bom trở thành vị trí chiến đấu lý tưởng cho binh sĩ mình. Họ đứng thẳng, tỳ súng vào miệng hố nhắm vào từng đợt sóng biển người của bọn Việt cộng khát máu mà bắn.
Đại đội 1 của Đại úy Bùi Bồn đã dùng con sông Vĩnh Định như một chỗ tựa tốt để chống trả từng đợt xung phong của địch cũng như yểm trợ cho các Đại đội 2, 3 và chỉ huy còn đang phơi mình trên bãi đáp. Kết quả sơ khởi Đại đội 1 đã tịch thu 10 cây súng 37 ly phòng không của địch đã đặt hàng ngang tại bìa làng.
Trời đã vào đêm, bóng tối đồng lõa với tội ác của địch qua những đợt "cắn lén" nhưng cũng là người bạn chân tình che chở cho chúng tôi, hạn chế tầm quan sát của địch nên chúng chỉ dùng pháo đe dọa vu vơ. Đến 10 giờ Tiểu đoàn mới nắm được tay nhau, lập thành một phòng tuyến tạm thời. Chỉ còn Đại đội 4 của Đại úy Thềm bị cô lập phải tự phòng thủ bảo vệ riêng, nhưng xét về mặt chiến thuật thì rất có lợi cho Tiểu đoàn. Một cái chốt khổng lồ làm tiền đồn cho đơn vị tại Chợ Sãi, dùng Pháo binh và Hải pháo ngăn chận sự di chuyển của địch từ Cổ thành Quảng Trị qua quận Triệu Phong, cũng như quan sát được thủy lộ dẫn ra Cửa Việt. Chiếm và giữ được Triệu Phong thì sớm muộn gì tỉnh Quảng Trị cũng sẽ trở về vùng đất Tự do.
Thường thường đánh nhau với những đơn vị chính quy tuy chém giết thả giàn "mạnh được yếu thua" nhưng thích hợp với người quân tử. Một cuộc chiến tranh quy ước, có lúc đánh lúc nghỉ, ăn uống, tiếp tế, tải thương, thay đổi lối đánh cho phù hợp trận liệt, rồi trở lại đánh tiếp. Nhưng với bọn Việt cộng, các cấp chỉ huy của chúng có được đào tạo ở một quân trường nào đâu! Đã vậy đầu óc lại bị Bác Đảng nhồi nhét hận thù đầy ắp nên chúng hăng say chém giết ... từ chú du kích nhỏ bé không biết gì gặp lúc đàn anh chết nhiều quá, cũng nhảy ra thay thế chỉ huỵ Vì vậy Việt cộng chỉ biết dùng một chiến thuật rừng với lối đánh lén, cắn lén!
Triệu Phong lúc bấy giờ là vùng địch kiểm soát nên họ có nhiều lợi thế hơn ta. Chúng rình rập, tấn công không ngơi nghỉ cốt làm cho quân ta mệt, tinh thần căng thẳng, quân số tiêu hao dần mòn. Nếu không có tinh thần cao và khả năng điêu luyện sẽ bị chúng đốn ngã dễ dàng. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đang đi trên đoạn đường chông gai ấy. Đến 11 giờ đêm quân ta tạm ngưng chém giết, mọi người lục ba-lô lấy cơm sấy ra nhơi. Ngồi trong hố cá nhân, chẳng cần cấp chỉ huy ra lệnh hay kiểm soát đôn đốc, ai nấy cũng đề cao cảnh giác và sẵn sàng lâm chiến vì đã quá quen thuộc với những đòn đen tối hạ cấp của lũ chuột Việt cộng.
Đêm khuya yên tĩnh, bỗng có tiếng la hét vang dội từ phía Chợ Sãi, nơi Đại đội 4 của Đại úy Thềm phòng thủ riêng. Một đoàn xe tăng địch với đèn pha sáng trưng, dàn hàng ngang cùng bộ binh chạy theo bên hông xe vừa bắn vừa hô xung phong. Tôi đã chuẩn bị trước các yếu tố tác xạ tiên liệu Pháo binh và Hải pháo, 42 khẩu pháo 105 ly nhả đạn cùng lúc và liên tục cộng với hàng ngàn trái hải pháo loại 500 cân Anh khổng lồ, khi nổ chụp lúc chạm nổ, trút lên đầu địch.
Vặn tần số truyền tin nội bộ của Đại đội 4 tôi theo dõi trận đánh, nghe các Trung đội trưởng liên lạc với Đại đội trưởng lòng tôi yên tâm được phần nào và cảm phục sự gan lì của họ. Trên máy PCR. 25 vang lên giọng nói bình tĩnh của Thiếu uý Tánh khi anh liên lạc với Đại úy Thềm:
- Thần Phong hãy yên tâm, chiếc tăng đầu còn cách chúng tôi 100 thước, tôi đã ra lệnh từng tổ 3 người sẵn sàng M.72 nghênh chiến ... Hiện giờ chiếc gần nhất chỉ còn khoảng 50 thước, chờ kết quả, sẽ có một số "cua rang muối" (chiến xa địch) để tặng Thần Phong và Hương Giang (danh hiệu của tôi).
Thiếu úy Tánh nói tiếp trong sự hồi hộp của tôi:
- Tôi bắn thử một viên M.72 chống chiến xa, kết quả tuyệt vời, chính tôi cũng không ngờ đạn vừa ra khỏi nòng là một tiếng nổ long trời, con cua trước mặt tôi đã nổ tung và bùng cháy.
Tất cả các Trung đội đều an tâm và phấn khởi, từng tổ tam tam chế đã dùng M.72 cải tiến để đưa đoàn cua của Bác vào chảo rang. Đại đội trưởng đã gọi máy về Tiểu đoàn tặng tôi có đến hàng chục con cua. Riêng Hạ sĩ Ích, Tiểu đội phó dùng M.79 phóng lựu, một mình anh đã rang 3 con cua ngon lành.
Song song với Đại đội 1 và 4, sự chiến đấu gan dạ của Đại đội 2 của Đại úy Duật và Đại đội 3 do Trung úy Vàng Huy Liễu chỉ huy đã tạo sức mạnh vô song cho gia đình Quái Điểu. Sư đoàn 312 của Việt cộng với quân số gấp 10 lần hơn đã không nuốt được Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến kiên cường.
Qua hai ngày song đấu, địch đã được tăng viện nhưng không vì thế mà áp đảo được quân ta. Cấp chỉ huy Việt cộng đã đánh giá sai lầm về Tiểu đoàn 1 Quái Điểu, và cho đấy là một miếng mồi ngon chúng chỉ cần nhe nanh là đã nuốt chửng được ngay. Việt cộng đâu ngờ gặp phải một miếng mồi lửa, tạo nên bởi sự đoàn kết sắt đá, gắn bó keo sơn cùng sự chiến đấu bền bỉ gan dạ của anh em binh sĩ ta. Và chúng cũng không lường được lòng yêu nước tràn đầy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trước sự tồn vong của đất nước. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã tổ chức được vị trí phòng thủ kiên cố bằng máu xương và sức mạnh tinh thần của mình cộng với sự yểm trợ hùng hậu mà chưa bao giờ Quân lực Hoa Kỳ xử dụng trên chiến trường Việt Nam.
Tôi đang liên lạc trên hệ thống Không lực để nhờ họ đánh phá căn cứ Ái Tử, (nơi mà địch đang đặt Bộ chỉ huy và căn cứ hỏa lực để yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị) bằng những trận rải thảm B.52 tạo nên những biển lửa khổng lồ đốt cháy tham vọng điên cuồng của bọn Cộng sản cướp nước bạo tàn, thì Trung sĩ Ngữ cận vệ trung tín nhất của tôi chạy vào báo:
- Trình Thiếu tá, Trung úy Kỳ thuộc Đại đội Viễn thám vừa bắt được 2 nữ du kích Việt cộng, tịch thu 2 khẩu súng "các-bin" tại nhà mình đang đóng quân!
Thì ra căn hầm cư trú của 2 "cô bé" du kích chỉ cách hầm đóng quân của tôi và cố vấn Mỹ độ 10 thước, trong vòng 24 giờ qua các cô muốn giết chúng tôi lúc nào chẳng được. Vì thế tôi đến gặp 2 cô và được biết họ cũng như hầu hết thanh thiếu niên Quảng Trị bị kẹt lại sau khi quân ta rút về tuyến Mỹ Chánh đã bị Việt cộng đoàn ngũ hóa và trang bị thành tổ "dân quân chiến đấu". Hai cô còn cho biết họ là nữ sinh trường trung học Nguyễn Hoàng và có người anh cả là Đại tá làm việc tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòạ Tôi liền cởi trói, bảo lãnh 2 cô và gia đình họ rồi hứa sẽ đưa ra vùng tự do sau cuộc đổ bộ này. Từ đó 2 cô là những người phục vụ đắc lực cho đơn vị tôi về tình hình du kích tại địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã thanh lọc và bắt giữ cũng như tịch thu rất nhiều tài liệu và vũ khí. Thế mới hay, trong cuộc chiến, yếu tố "tranh thủ nhân tâm" cũng quan trọng không kém, và còn tiết kiệm được xương máu anh em.
Sau 15 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã giao tiếp được với Tiểu đoàn chúng tôi nhưng cách nhau bằng con sông Vĩnh Đi.nh. Vì không dùng được trực thăng nên tôi phải nhờ đơn vị bạn này tải thương bằng những bè chuối buộc dây kéo qua sông !
Sau đó Tiểu đoàn 1 Quái Điểu được đưa về Huế, chúng tôi như những người về từ cõi chết, râu tóc rậm rạp như người rừng, mắt sâu như vực thẳm, tiều tụy như những bệnh nhân lâu ngày. Chúng tôi những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã dành phần đời trai trẻ của mình cho những chuyến đi dài không mệt mỏi: từ tuyến đầu của con sông Thạch Hãn, được chọn làm giới tuyến ngăn địch cho đến vùng đầm lầy sông Ông Đốc, chặng đường cuối của quê hương hoặc lặn lội vùng biên giới Miên Lào với núi rừng trùng điệp... với một mục đích duy nhất là bảo vệ quê hương thân yêu khỏi lọt vào tay quân Cộng sản khát máu, bạo tàn.
Nguyễn Ðăng Hòa
ngay09
07-25-2007, 12:10 AM
Phong Cách Anh Hùng
Của Tướng Phạm Văn Phú
Nguyễn Ðông Thành
(Trích trong "Ðời Chiến Binh" của Trương Dưỡng)
Từ 1975 tới nay, có một số người viết về Tướng Phạm Văn Phú, một cấp chỉ huy trong ngành LLÐB và Nhảy Dù cũ. Ở San Jose có tờ báo cũng cho đăng bài của một sĩ quan cấp Tá, nặng lời với một chiến hữu đã mất. Các cấp bậc của Tướng Phú đều được gắn tại mặt trận, và ông cũng đã nhiều lần nếm mùi thất bại, cắt lon, giáng chức, để cho có đủ..."khi vinh lúc nhục" của một đời binh nghiệp. Huyền thoại Phạm Văn Phú đã được mỗi người nhắc tới một cách khác nhau. Ông đã chết nên...ngoại trừ nhà văn Phạm Huấn, người cũng đeo bằng Dù trên ngực áo như Tướng Phú, và đã sống cạnh ông trong những ngày cuối của 1974-1975, là hơn một lần lên tiếng bênh vực cho cấp chỉ huy cũ khi ông Phú bị chỉ trích. Nhà văn tiền bối Nguyễn Ðông Thành, đeo cấp Trung Úy từ năm 1947 và là một cây viết chủ lực của cơ quan truyền thông thời Ðệ Nhị Cộng Hòa và các tờ báo đứng đắn tại hải ngoại hiện nay. Ông đã đúc kết về Tướng Phạm Văn Phú (Ðại Ðội Trưởng và Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù năm 1953 tại Ðiện Biên Phủ) qua tài liệu khách quan nhất của những người ngoại quốc có thẩm quyền và tiếng nói của họ có đủ giá trị để chúng ta suy nghĩ.
Trương Dưỡng
Dù rằng có nhiệm vụ không thể thiếu xót là làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, K8ÐL, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 và Quân Khu 2, vẫn không chối được trách nhiệm về việc bỏ mất miền Tây Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho Cộng quân tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa một cách mau chóng và để dâng hơn cả dự liệu hoang đường nhất của bọn Chóp Bu CSBV. Ðó là nhận định nhất trí của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, trong vào năm đầu hạ bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lý vào hồi đó, tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành binh đã bị ghi nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị, và thiếu chỉ huy.
Nhưng rồi thì từng phần sự thực dần dần được phơi ra. Người ta chưa biết thật đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng đã biết rõ được vài ba sự việc có thể chứng minh rằng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trên thực tế không có trách nhiệm gì hết trong cuộc rút quân khởi sự ngày 13/3/75 ở Pleiku. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH. Trung Tướng Thiệu đã đích thân ra Nha Trang gặp Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, mang theo Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham Mưu Trưởng, để đích thân truyền đạt quyết định rút quân cho Tướng Phú thi hành.
Với tư cách là Tư Lệnh của một Quân Ðoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chống lại mệnh lệnh của Tổng Tư Lệnh và Tổng Tham Mưu Trưởng. Nhưng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú cũng không tuân hành: hoặc là vì chính ông từ khước; hoặc vì Tổng Thống Thiệu, Ðại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không ngoan ngoãn vâng lời. Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây Nguyên là một Ðại Tá mới được thăng cấp Chuẩn Tướng, Ðại Tá BÐQ Phạm Duy Tất, để lãnh chức Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, và Tướng Tư Lệnh được đặt trong tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe, từ ngày 14/3/75 đến ngày bị Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Tổng Trướng Quốc Phòng mới nhận chức, bắt giam vì tội bỏ mất vùng Tây Nguyên!
[...]
Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây Nguyên được thực hiện theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trên thực tế chẳng còn là Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu II, nên không có trách nhiệm gì về cuộc hành binh tự sát mà Thiếu Tướng tuyệt nhiên không tham dự vào bất cứ một giai đoạn nào, từ quyết định, thiết kế, đến việc chuẩn bị và thực hiện. Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc bỏ mất vào tay địch một phần lãnh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rõ là đại cuộc đã tạm thời không còn cách nào cứu vãn nữa, vì Tướng Dương Văn Minh đã lạm dụng quyền Tổng Tư Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp mình cho giặc Cộng.
Người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú tự sát chẳng phải là vì sợ giặc Cộng bắt được và hành hạ trả thù. Nếu muốn, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra nước ngoài một một cách ung dung như một số đông các vị cựu Tướng Lãnh khác, chứ không đến nỗi phải chịu nhục trong tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ như một số người khác...hay phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đáp trên một mái nhà như ông Bộ Trưởng Quốc Phòng, kẻ mới tuần trước còn tống giam Tướng Phú vì tội "Không dám hy sinh chiến đấu và bỏ chạy trước quân địch"!
[...]
Việc Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đến cơ quan D.A.O. gặp Tướng Mỹ Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một chuyến bay di tản cho một người con ông, tác giả sách Decent Interval không khen các Tướng khác là thức thời, và cũng không chê Thiếu Tướng Phạm Văn Phú là gàn dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ý là Tướng Phú tự sát ngay sau khi Cộng sản tràn vào Sài Gòn, và thở hơi cuối cùng ở bệnh viện Grall.
Nhưng một tấm hình in trong tập ảnh kẹp ở giữa quyển Sauve Qui Peut (bản tiếng Pháp của sách Decent Interval) lại "nói" hộ ông Frank Snepp những điều ông cần viết ra mà vẫn nói lên được, về tiết tháo và tinh thần trách nhiệm cao độ của một Phạm Văn Phú đã quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm thanh thản chứ không đành chạy thoát lấy thân khi đất nước lâm nguy. Ðó là bức ảnh kỷ niệm mà Tướng Smith chụp với Tướng Phú tại cơ quan D.A.O. ngày 27/4/1975. Tướng Smith lúc đó phụ trách việc xếp hạng ưu tiên cho những người được coi là có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc, lần lượt của các phi vụ di tản. Ông ta bận đến mực không có thời giờ đi ăn, nên sự kiện Tướng Smith bỏ ra vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với Tướng Phú, chứng tỏ hai người có tình thân thiết lắm. Nếu cũng tham sống sợ chết, Tướng Phú có thể xin ở một người thân với mình như thế hàng chục chỗ cho cả gia đình ung dung ra đi.
Nhưng người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú còn đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng Smith một chỗ duy nhất cho một cậu con trai của ông, ý hẳn là để giữ cho họ Phạm còn có người nối dõi. Hành động tự giết mình để chết theo Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử đã được quyết định từ lúc Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tìm gặp Tướng Smith để ký thác "con côi", chứ không phải là một việc liều lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng sản đã hùng hục tiến về phía Dinh Ðộc Lập.
Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả người Pháp cũng đã có dịp để tán thưởng phong cách anh hùng của một sĩ quan Nhảy Dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ ra họ không lưu ý tới, vì đã chỉ có một chức vụ khiêm nhường (Tiểu Ðoàn Phó mới được đề bạt) lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành hình. Một trong 2 tác giả đó là Ðại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đã tự thú là có thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.
Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo đơn vị (Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam) nhảy xuống tiếp viện lực lượng G.O.N.O. trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ, Trung Tá Langlais còn giữ nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng xấu đặc biệt về Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, đơn vị mà chính ông ta đã đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị hồi cuối năm trước. Langlais có chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển Ðiện Biên Phủ do nhà xuất bản France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập ký sự đó, Langlais còn nhìn nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp...Nhưng cũng trong tập ký sự Ðiện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành ra đến hơn 10 đoạn để nói về Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù VN, và đặc biệt về viên sĩ quan cấp Úy mang tên Phạm Văn Phú, người đã chỉ huy giỏi giang và chiến đấu dũng liệt đến mức làm cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm của mình về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống Cộng. Ðại Tá Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của Quân Khu II của nước Việt Nam Cộng Hòa:
Ngày 2/3/1954, khi tình hình Biện Ðiên Phủ đã nguy ngập tới mức Bộ Trưởng Bộ Quân Lực Pháp (René Pleven) vừa từ Ðiện Biên Phủ trở về, đã phải ra trước Hội Ðồng Liên Bộ để đề nghị một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập Liên Ðoàn 5 Nhảy Dù VN, Tiểu Ðoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, mà Tiểu Ðoàn Trưởng Thiếu Tá Begeard, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ những năm kháng chiến ở vùng Ðức chiếm đóng. TÐ5NDVN nhảy xuống Ðiện Biên Phủ trước tiên, vào buổi chiều ngày 14/3/1954. Nhảy ở độ thấp, dưới mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly. Ðịch bắn dữ dội đến mức phải thay đổi bãi nhảy mấy lần.
Trung tá Langlais là Tư Lệnh là Tư Lệnh Phó Lực Lượng GONO nhưng nắm toàn quyền trên thực tế, vì Ðại Tá De Castries chỉ làm một việc độc nhất là...ký và chuyển đi những gì được Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với quân nhân người Việt, nhát là với TÐ5NDVN, mà chính ông ta đã "trả về" trước đó hơn 2 tháng. Nên ông đã dự tính là xé lẻ ra để bổ sung chỗ này chỗ nọ, chứ không sử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.
Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một đại đội của TÐ4NDVN đã bị biệt phái cho một đơn vị Lê Dương để tiếp cứu lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành quân không đạt được kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần chiến đấu của lực lượng vừa gởi đến tăng viện. Nhưng Langlais đã bắt đầu nhìn TÐ5NDVN với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TÐ6ND của Thiếu Tá Begeard, TÐ5NDVN được giao cho trấn giữ đồi Eliane IV ở phòng tuyến thứ 2, nhiệm vụ vừa nặng nề vừa nguy hiểm, là tự chôn mình dưới hỏa lực địch. Cả 2 tiểu đoàn đóng ở gần đỉnh đồi, TÐ6 giữ mặt Tây, TÐ5NDVN giữ 2 mặt Ðông và Nam.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðaòn có thể vị bắn trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch rình rập thường trực ở phía đối diện. Thiếu Tá Tiểu Ðoàn Trưởng tình nguyện trấn giữ vị trí nguy hiểm đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông hào trong một thời gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng và tinh thần phục vụ của những quân nhân Việt Nam, đang ép lòng chấp nhận quyền chỉ huy của người Pháp vì đang cần đến đồng minh giai đoạn!
Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội trong TÐ5NDVN và cũng là Ðại Ðội Trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy, 2 Ðại Ðội Trưởng khác là Ðại Úy Armandi, Rouault, và Ðại Ðội Phó tạm lĩnh.
Ngày 24/3/54, TÐ5NDVN được tăng cường thêm Ðại Úy Alian Bizzard, một quân nhân Tùy Viên của một Tướng ở Sài Gòn để xung phong ra mặt trận, do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm Tiểu Ðoàn Phó TÐ5NDVN, rồi chịu trách nhiệm trấn giữ 2 cứ điểm H.6 và H.7, trong tập đoàn cứ điểm Huguette, mà nhiệm vụ bảo vệ các phi đạo còn dùng được. Ðại Úy Bizzard mang theo mấy trung đội lấy từ 2 Ðại Ðội I và IV; trong khi ấy Ðại Ðội III được biệt phái cho cứ điểm Dominique, Éliane, và Isabelle; lính Bắc Phi ở Dominique I bị tràn ngập. Ðại Ðôi III của TÐ5NDVN tăng phái chỉ còn 10 người chạy về tới Tiểu Ðoàn Bộ.
Tình hình hồi ấy tuyệt vọng đến mức Navarre và Cogny chỉ còn độc một việc là đổ lỗi lên đầu nhau; Langlais luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến Dédé (Botella), để động viên tinh thần họ giữ vững đồi Éliane IV, vì để mất cứ điểm ấy là Ðại Bản Doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia sẻ với TÐ6 của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TÐ5NDVN, đã mất đi Ðại Ðội III, vẫn chỉ sử dụng được non phân nửa quân số còn lại. Langlais giải nhiệm cho Bizzard chức Tiểu Ðoàn Phó hư hàm để ông ta mang Ðại Ðội I đi trấn giữ cứ điểm H.6, trong khi Trung Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng trách không tương xứng với 1 đại đội là trấn giữ điểm tựa Opéra vừa thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm Huguette I và Épevier.
Trong thượng tuần tháng 4/54, tình hình ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14/4/54, Langlais báo cáo là chỉ còn 3000 quân khiển dụng vì ông không thèm tính tới các phần tử đã mất hết tinh thần chiến đấu. Ở đoạn này trong sách Ðiện Biên Phủ, tác giả nhấn mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Éliane IV (TÐ6ND và TÐ5NDVN) vẫn giữ vững tinh thần, và họ đã nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.
Hôm sau, ngày 15/4, Ðại Tá De Castries được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và Ladande cũng được thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong số có Trung Úy Phạm Văn Phú.
Ngày 19/4/54, Ðại Úy Phú được thay thế bởi Ðại Úy Bizzard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H.6 đêm hôm trước, Ðại Ðội I gồm 200 chỉ còn có 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Ðại Ðội II, rồi Ðại Úy Phạm Văn Phú được đề bạt lên chức Tiểu Ðoàn Phó ngày 26/4.
Vào thời điểm ấy, tình hình ở Ðiện Biên Phủ rõ ràng là vô phương cứu vãn. Sau gần một tháng thí quân không tính đếm, 3 Trung Ðoàn địch đã phá huỷ được toàn bộ phi đạo; giải quyết hết 3 điểm tựa trong số có điểm tựa Opéra, mà Ðại Úy Phú đã giao lại cho Ðại Úy Bizzard 5 ngày trước.
TÐ5NDVN chỉ còn ngót hơn 200 chiến sĩ, vì ngoài Ðại Ðội II (không toàn vẹn), Bộ Chỉ Huy chỉ sử dụng vài chục người còn lại của 3 đại đội đã tan vỡ. Quân số đã hao hụt quá nửa, nhưng TÐ5NDVN lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội, là một mình trấn giữ tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TÐ6ND (Tiểu Ðoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Béchignac) giữ liên lạc vớ Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Ðể làm cái việc không thể làm nổi là ngăn chận không cho địch quân (đông gấp mấy chục lần) vượt sông mà xâm nhập khi Trung Tâm, ngót 200 chiến sĩ TÐ5NDVN chỉ dược tăng cường với mấy chục chiến sĩ còn lại của Tiểu Ðoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù do Ðại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng lực lượng tử thủ ấy vẫn làm tròn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7/5/54. Mấy giờ trước đó, hai đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TÐ5NDVN, nhưng họ phải mất 3 giờ mới đến được Chỉ Huy Sở của Thiếu tá Botella, và chỉ còn không quá 20 chiến sĩ!
Ðến hừng sáng, Ðại Úy Phạm Văn Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng giành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Ðại Úy Guillemint, Thiếu Úy Lafanne, và Ðại Úy Phạm Văn Phú) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng vài chục chiến sĩ TÐ5NDVN tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Ðông Nam. Ðịch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này với loại vũ khí đầu tiên được sử dụng trên chiến trường VN (một thứ súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn), và căn cứ chỉ huy của TÐ5NDVN thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7/5/54.
Trên đây là tóm lược các đoạn nói về TÐ5NDVN, và về Ðại Úy Phạm Văn Phú trong quyển Ðiện Biên Phủ của Ðại Tá Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng G.O.N.O. ở Ðiện Biên Phủ trong thời gian TÐ5NDVN tham chiến tại mặt trận đó. Ðại Tá Langlais đã đích thân ra lệnh, đã chính mắt nhìn thấy, hay đã được báo cáo tường tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên Ðại Tá Pháp đó đã từng mang nặng thành kiến không tốt với chiến hữu VN, nên chắc chắn không cố ý nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TÐ5NDVN nói chung, và viên Ðại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập hồi ký Ðiện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển Decent Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê gì nhân vật Phạm Văn Phú.
Cũng như Ðại Tá Pierre Langlais, người viết quyển La Bataille de Dien Bien Phu (xuất bản ở Paris cuối 1963) cũng là một sĩ quan cao cấp, từng tham chiến ở mặt trận đó suốt từ đầu đến cuối. Ông Jules Roy về sau được phép trở lại Bắc Việt thu thập tài liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho vì dầy đến 624 trang), nên vẫn bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Ðiện Biên Phủ. Sự nghi ngờ đó không phải vu vơ, quả thật tác giả La Bataille de Dien Bien Phu đã đưa ra khá nhiều hình ảnh và luận điệu có lợi cho phe đó. Tuy nhiên trong các đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến mấy trận đánh từ sau ngày các cứ điểm Béatrice I, II, và III thất thủ (đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương tự như Pierre Langlais (khá chi tiết hơn vì viết dài hơn) về các chiến tích của TÐ5NDVN, và nhất là về phong cách anh hùng của Tiểu Ðoàn Phó Phạm Văn Phú. Về trận đánh dứt điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Éliane IV, Jules Roy bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:
Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch liệt cứ điểm Éliane IV. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng của cộng quân là Trung Ðoàn 98. Bộ chỉ Huy TÐ5NDVN chỉ còn sử dụng được khoảng 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được. Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và đại bác không giật, nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân vẫn tiến được lại gần. Trong thế ưu thắng rõ rệt, Trung Ðoàn 98 vẫn phải dè dặt tối đa; đây là lần đầu tiên họ sử dụng đường điện thoại vô tuyến nối liền vác đại đội với Chỉ Huy Sở Trung Ðoàn!
Chiến sĩ TÐ5NDVN chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ Ðại Úy Phạm Văn Phú chỉ còn có 30 người để chỉ huy, họ bắn đến nòng súng nóng bỏng, và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giật với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu (như Tow mà thô hơn) nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Ðoàn Phó vừa bị đốn ngã.
Trên đỉnh trời vừa rạng sáng, trận cận chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Éliane IV. Quân địch tràn ngập khắp nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Éliane IV vẫn còn cầm cự. Theo lệnh Ðại Tá Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Ðoàn Lê Dương số 13, đi tiếp cứu Éliane IV nhưng không kịp. Vì trong căn cứu chỉ huy đầy nhóc thương binh. Thiếu Tá Béchignac không đồng ý xin bắn lên đầu mình và hơn 10 người còn vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng!
Tác giả quyển La Bataille de Dien Bien Phu bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận Ðiện Biên Phủ. Tác giả hồi ký Dien Bien Phu xác nhận vốn có thành kiến xấu với quân nhân người Việt Nam nói chung và TÐ5NDVN nói riêng. Nhưng cả hai tách giả ấy đều đã không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn Phú, hồi ấy còn là một sĩ quan cấp Úy, tức là nhỏ cấp hơn họ nhiều. Một chiến sĩ chống Cộng có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu binh nghiệp, tất nhiên không thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một Tướng Lãnh, mà cúi mặt...ở nước người này quân tan, nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát, để được chết với lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một nhà Tướng.
ngay09
07-25-2007, 12:11 AM
Hồi ký:
Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển"
của Lê Bá Thông
Chiếc Giang tốc đỉnh ( River Patrol Boat - PBR) lướt sóng trên sông Hội An, hướng ra cửa biển về phía căn cứ Duyên đoàn 14. Tôi đứng trước mủi tàu, tay cầm chiếc nón cát két Hải quân, mái tóc bay bềnh bồng trong cơn gió mát từ biển đông vào một buổi sáng sương mù còn lãng vãng vấn vương trên những tàng cây xanh mọc dọc theo bờ sông đầy lau sậy. Xa xa về phía gành đá trên cồn đất, những con cò trắng đang rảo bước, chăm chú kiếm mồi, không để ý đến tiếng động cơ vang dội và những đợt sóng nhỏ ào ạt cuốn vào bờ từ chiếc PBR đang chạy ngang qua với tốc độ cao.
Nước sông Thu Bồn đục ngầu chứ không trong xanh như giòng sông Hương của cố đôù Huế; đáy sông sâu cạn không đều và uốn khúc qua những cồn cát lau sậy lưa thưa, rất trở ngại cho chiến thuyền và chiến đỉnh vận chuyển nếu không quen với hải trình từ cửa biển, cạnh mật khu Cẩm Thanh của Cộng sản, lên đến thị xã Hội An. Những Thủy thủ đoàn kinh nghiệm và thành thạo của các Duyên kích đỉnh và chiến thuyền của các đơn vị biệt phái và tham dự trong Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển", một cuộc hành quân Hải quân dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải đóng tại căn cứ Tiên Sa Ðà Nẳng, đã thuộc nằm lòng hải trình này nên vẫn duy trì vận tốc cao khi hải hành tuần tiểu hoặc chuyển quân.
Vào tháng 3 năm 1969 tôi được chọn lựa và chỉ định về Hội An nhận lãnh chức vụ Chỉ huy trưởng Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm trước đây mang tên là "Operations Sea Tiger" do Hải quân Hoa Kỳ bàn giao lại cho Hải quân Việt Nam trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh và kế hoạch Accelerated Turn Over to Viet nam ( ACTOV). Tôi rất hãnh diện chỉ huy một Liên Ðoàn gồm các đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ, với các Lực lượng tăng phái thường trực gồm Duyên đoàn 14, Duyên tốc đỉnh (Patrol Craft, Fast-PCF) thuộc Hải đội 1 Duyên phòng, một phân đội gồm từ bốn đến sáu Giang tốc đỉnh( PBR) của Giang đoàn 57 Tuần thám, một toán Ðiện thám ( Sensor Team) và hai nhân viên bắn sẻ( Snipers) thuộc Hải quân Hoa Kỳ. Ngoài ra người Sĩ quan Cố vấn Liên Ðoàn, Thiếu tá Holland, cũng là cựu Chỉ huy trưởng Chiến dịch "Hổ Biển" này được chỉ định tiếp tục phục vụ để phối hợp và yểm trợ hành quân, nhất là liên lạc không yểm cho các cuộc hành quân do Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm điều động khi cần thiết.
Nhiệm vụ Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm " Hổ Biển" còn bao gồm việc hành quân hỗn hợp với các đơn vị thuộc Tiểu khu Quảng Nam và Lữ Ðoàn Thanh Long, Ðại Hàn, trú đóng phía nam khu vực trách nhiệm hành quân của Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm. Vùng hành quân của "Hổ Biển" rộng lớn với lãnh hải trách nhiệm của Duyên đoàn 14 trong nhiệm vụ ngăn chặn, tiêu diệt và kiểm soát Lực lượng Cộng sản hoạt động từ ba mật khu chính tại Hội An, Quảng Nam; đó là các mật khu an toàn và bất khả xâm nhập với nhiều mìn bẫy của địch nằm rải rác từ cửa biển Hội An, trong tầm súng cối Duyên đoàn 14, dọc theo phía nam sông Thu Bồn, lên tận vùng mỏ than Nông Sơn trong dãy núi Trường Sơn hùng vĩ. Ba mật khu mang tên: Cẩm Thanh, Ðập Lỡ và Ðồng Bò đã trở thành địa danh gây nhiều kinh hoàng và thiệt hại cho quân đội quốc gia đồn trú tại lãnh thổ do Tiểu khu Quảng Nam dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Lê Trí Tín, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng. Trong thời gian gần đây, Cộng quân gây áp lực mạnh bằng những cuộc pháo kích hằng đêm vào thị xã Hội An, gây tổn thất nặng về nhân lực, vật chất và kinh hoàng cho dân chúng cư ngụ tại đây, đồng thời còn phục kích, giật mìn trên con đường chính nối liền quốc lộ Một và Hội An, duy trì sự bất ổn và tình hình khẩn trương, thiếu an ninh trên khắp lãnh thổ Tiểu khu.
Trước đây khoảng hơn một tuần lễ, vào đêm hôm trước ngày tôi đáo nhậm chức vụ mới vào một buổi sáng khá đẹp trời cuối xuân năm 1969, hai Giang tốc đỉnh ( PBR) của "Operations Sea Tiger" bị địch quân dùng bộc phá loại mạnh, phá nổ tung trong khi hành quân phục kích cạnh mật khu Ðồng Bò, gây tử thương cho 4 thủy thủ Mỹ và thương tích nặng cho Thuyền trưởng. Sau đó Thiếu Tá Holland, Chỉ huy trưởng Chiến dịch phải xin Tiểu khu Quảng Nam tản thương bằng trực thăng và rồi yêu cầu hai phi tuần khu trục F4 - Phantom từ Ðà nẳng bay xuống dùng phi đạn phá hủy và đánh chìm phần còn lại của 2 Giang tốc đỉnh trước khi các chiến đỉnh lọt vào tay của địch quân Cộng sản.
Tôi nhớ lại thời gian phục vụ với chức vụ Hạm trưởng Khinh tốc Ngư lôi đỉnh (Torpedo boat, Fast-PTF) tại Lực Lượng Hải Tuần, cũng đã tham dự nhiều chuyến công tác đêm thả toán Biệt Hải, bí mật xâm nhập vào mật khu Cẩm Thanh, phá hoại cơ sở và bắt tù binh Cộng sản tại mật khu nổi tiếng kiên cố và nguy hiểm này. Và hôm nay chính tôi lại trực diện đối đầu với địch quân trên một trận tuyến không rõ ràng; ban ngày những công dân bình thường, sinh sống giữa những người quốc gia tại các làng mạc đánh cá, thành thị đông đúc để rồi khi bóng đêm bao trùm trên con sông dài uốn khúc, những người nàyỉ lại trở thành du kích Cộng sản, hờm sẵn các ống phóng hỏa tiển B40, nằm dọc ven rừng lau sậy, phục kích tấn công các chiến thuyền, giang đỉnh đang hải hành tuần tiểu trên dòng sông Hội An chật hẹp với bờ đất dựng đứng hai bên khi lên đến thượng giòng gần cầu xe lửa sập, nằm vắt ngang cuối sông Thu Bồn.
Những kỷ niệm của thời gian xông pha trong "Vùng Biển Ðen", những mất mác, nỗi niềm đau thương vẫn theo mãi với chuỗi đời của người lính biển trong hơn một năm qua sau khi tôi quyết định rời Lực Lượng Hải Tuần. Gió biển, mây ngàn, trăng sao lấp lánh trong đêm khuya trên sóng nước đại dương và ý thích phiêu lưu mạo hiểm, yêu cảm giác mạnh làm cho người thủy thủ đã chọn biển khơi làm bạn, nguy hiểm là thử thách, không thể tiếp tục ngày ngày soạn thảo kế hoạch hành quân tiếp vận tại văn phòng có máy lạnh, ngày hai buổi tham dự thuyết trình và nghe báo cáo về những chiến hữu đang tiếp tục chiến đấu tại các chiến trương sông rạch hay đã nằm xuống trong lòng đất Mẹ Việt Nam. Nhận lãnh trọng trách và một thử thách mới là tôi đã chấp nhận sự hy sinh cá nhân đối với gia đình, với người vợ lính biển hiền thục chỉ biết hy sinh an phận với đời sống thường nhật, vui đùa và dạy dỗ con cái để quên đi nỗi mõi mòn trông ngóng tin tức và rồi hằng đêm cầu nguyện cho sự an lành của người chồng thủy thủ đang xây mộng hải hồ tại một vùng sông biển gian nguy nào đó.
Ðang thả hồn trong ý nghĩ bâng khuâng, chợt tôi nghe tiếng người Cố vấn Hoa kỳ hỏi nhỏ:
-" Is everything OK, Commander?"
Tôi quay người lại, đưa tay ra bắt bàn tay cứng rắn của Thiếu Tá Holland và mỉm cười thân mật đáp lại bằng tiếng Mỹ:
-" Vâng, tất cả đều bình thường, đứng ngắm biển nước và thưởng thức cơn gió mát từ đại dương thổi vào, tôi không thể nào quên những chuyến hải hành cách đây hơn một năm trước khi đang còn là "Skipper" của PTF. Tôi thích đi trên những loại tàu chạy nhanh như bay trên sóng và vì thế khi đứng trên chiếc PBR này, cảm giác cũ một lần nữa đã trở lại với tôi."
-" Tôi rất hiểu về cảm tưởng này; nhiều lúc tôi cũng nhớ lại thời gian phục vụ trên các chiến hạm, tôi thích nhất là "Cruiser", vì loại chiến hạm này không lớn lắm mà cũng không quá nhỏ như "Destroyer", tôi học hỏi và thực hành được nhiều về Hải nghiệp khi phục vụ trên Tuần Dương Hạm cho đến khi được chỉ định theo học trường về "Brown Water" và sau khi tốt nghiệp, tình nguyện qua Việt Nam và bắt đầu chiến đấu trong vùng sông ngòi tại "Mekong Delta". Nghề nghiệp đã thay đổi nhiều, nhưng tôi vẫn nhớ những chuyến hải hành khắp nơi trên thế giới mà tôi đã may mắn và thích thú góp phần."
Tôi gật đầu như đồng ý với người Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, xuất thân từ Hàn Lâm Viện Hải quân U.S. Naval Academy tại Annapolis, thuộc Tiểu bang Maryland mà tôi vừa thay thế. Tôi đã được nghe vị Cố vấn trưởng Vùng I Duyên Hải ca tụng về khả năng lảnh đạo, kinh nghiệm chiến trường sông rạch và nhất là đức tính điềm đạm sau đôi mắt kiếng cận thị trông tựa như một nhà giáo của Thiếu Tá Holland, trước khi tôi rời Bộ Tư Lệnh Vùng xuống nhận chức vụ này ở Tiểu khu Quảng Nam.
Chiếc Giang tốc đỉnh vẫn phăng phăng rẽ dòng nước đục đang theo ngọn thủy triều từ cửa biển mà trước đây thực dân Pháp đã gọi là cửa biển "Phai Phô"( Faifo) nhiều sóng gió. Từ xa những cánh buồm nâu của các ghe chài lưới nhấp nhô theo lượn sóng bạc đầu, từng con chim hải âu bay vờn trên ngàn trùng sóng để kiếm mồi. Bầu trời buổi chiều trong xanh như màu áo thiên thanh của các cô gái Hội An mà tôi nhìn thấy nhởn nhơ cuộn bay trong gió, trên những chiếc xe đạp đi đến trường khi tôi ngồi trên chiếc xe Jeep quân đội chạy ra bến tàu cạnh chợ cá Hội An. Tôi không so sánh nét đẹp của gái Hội An với những giai nhân trong tà áo trắng, hay che dấu mặt và liếc nhìn người khác dưới chiếc nón bài thơ tại đất Thần kinh. Mỗi người một vẻ, nhưng các cô gái Hội An có nước da ngâm đen hơn là người con gái xứ Huế, có lẽ vì quanh năm họ được hưởng ngọn gió mát mang theo mùi biển mặn từ cửa "Faifo" thổi vào, làm tăng thêm nét mặn mà của các thiếu nữ sống gần đại dương.
Tiếng súng pháo binh vọng lại từ phía bên hữu hạm, nơi Lữ Ðoàn Thanh Long Ðại Hàn đồn trú đưa những suy tư của tôi trở về với thực tại. Bên phía tả hạm chiến đỉnh, thấp thoáng rừng dừa nước màu xanh mọc dày đặc trên đảo Cẩm Thanh, nơi sản xuất loại cua đồng nổi tiếng Quảng Nam và cũng là căn cứ địa, mật khu an toàn của Việt Cộng. Sông Hội An mở rộng hơn nhiều khi chảy ra đến gần cửa biển; trên sông những hàng rớ cá của dân chài giăng chằng chịt giữa giòng. Các con chim biển đậu nghỉ cánh trên những cọc tre, thản nhiên nhìn lơ đãng khi chiến đỉnh chạy ngang qua tạo nên từng đợt sóng lượn dài trên dòng nước đục ngầu. Cầu tàu Duyên đoàn 14 đã thấy ẩn hiện phía trước, vào khoảng hướng 10 giờ. Chiến đỉnh giảm dần tốc độ và người Hạ Sĩ quan thuyền trưởng đi ra phía boong trước chỗ hai vị Sĩ quan tân cựu Chỉ huy trưởng Chiến dịch đang đứng nhìn về phía Duyên đoàn:
-" Trình Commandant, Thiếu tá Chỉ huy trưởng Duyên đoàn đang tham dự hành quân với Tiểu khu nên không có mặt tại căn cứ, chỉ có Ðại Úy Duyên đoàn phó ở tại đơn vị mà thôi."
Tôi gật đầu nhận hiểu và giải thích cho người Hạ sĩ quan mà tôi đã quen biết trước đây tại Ðà nẳng:
-" Cám ơn Trung sĩ Quang, tôi đã được Thiếu Tá Hải báo cáo sáng nay và tôi cũng muốn theo dõi diễn tiến hành quân tại đây với Thiếu Tá Holland."
Tôi mỉm cười vỗ vai người Trung sĩ già và hình dung trong trí nhớ của mình, Hải quân Thiếu tá Phan Tứ Hải, người bạn học cũ của lớp Ðệ nhất ban toán ở trường Quốc học cách đây hơn 10 năm. Không ai có thể ngờ được một con người nhiều nghệ sĩ tính, ít nói, chơi đàn Guitar bằng tay trái hay tuyệt vời, dáng dấp nhỏ con ngày nào nay đã trở thành một chiến sĩ Hải quân gan dạ, một người hùng với khuôn mặt sạm nắng, tài điều quân xuất chúng hữu hiệu đã và đang là vị hung thần của các đơn vị Cộng sản hoạt động tại vùng sông rạch thuộc tỉnh Quảng Nam. Thiếu tá Hải là Sĩ quan đàn em, xuất thân khóa 11 SVSQ/HQ/NT sau tôi một khóa và là một trong những Sĩ quan Hải quân được tuyên dương công trạng trước Quân đội về những chiến công mà Hải đã thâu hoạch được trong thời gian đảm nhận chức vụ Chỉ huy trưởng Duyên đoàn 14 tại Hội An.
Chiếc PBR từ từ cập vào chiếc cầu gỗ của căn cứ, Thiếu Tá Holland và tôi lần lượt bắt tay Ðại úy Chỉ huy phó của Duyên đoàn 14 rồi được hướng dẫn vào phòng hành quân và nghe người Sĩ quan trẻ này thuyết trình về cuộc hành quân hỗn hợp của Duyên đoàn và các đơn vị Ðịa phương quân thuộc Tiểu khu Quảng Nam, đang diễn tiến tại mật khu Ðập Lỡ, phía tây bắc của thị xã Hội An.
Sau đó hai vị tân và cựu Chỉ huy trưởng Chiến dịch "Hổ Biển" xuống cư xá Sĩ quan để chào vợ của Thiếu tá Hải, nói vài câu chào hỏi xã giao rồi đi thăm trại gia binh đơn vị cũng được xây cất trong vòng rào của căn cứ . Nhìn những khuôn mặt ngây thơ vô tội dễ thương của các trẻ nhỏ, con quân nhân Hải quân và những người vợ thủy thủ đã bỏ hết tất cả tiện nghi thành phố, đi theo chồng lính biển sống một đời sống đầy nguy hiểm và thiếu thốn nhu cầu vật chất trong trại gia binh đơn vị và thường phải xuống hầm trú ẩn vì địch thỉnh thoảng pháo kích, tấn công vào căn cứ, tôi thầm thán phục và ngưởng mộ sự hy sinh cá nhân, lòng yêu thương chung thủy của các người vợ lính chiến Việt Nam Cọng hòa.
*****
Vài tuần lễ sau ngày đáo nhiệm chức vụ mới tại Tiểu khu Quảng Nam, hàng ngày tháp tùng Thiếu tá Hải trên Duyên tốc đỉnh (PCF), thuyền Ferrous Cement, ghe Thiên Nga, Giang tốc đỉnh (PBR)... thăm các đơn vị đang tuần tiểu trên các sông rạch và thám sát các vị trí chiến lược dọc theo sông Thu Bồn và các nhánh sông nhỏ kế cận, hôm nay tôi quyết định lên gặp Ðại tá Lê Trí Tín, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng và mời vị Sĩ quan nổi tiếng tốt này tháp tùng đơn vị Ðiện thám và chiến đỉnh hỗn hợp của Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển" tham quan khu vực đang được các đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa kỳ khai quan và kiểm soát ở phía nam mật khu Ðồng Bò của Việt Cộng.
Hai ngày sau vào một buổi sáng sớm sương mù đang còn bao phủ trên thành phố Hội An, 4 chiến thuyền và 4 Giang tốc đỉnh (PBR) rời bến tàu gần khu chợ của thị xã nhỏ bé này, trực chỉ hướng tây với phái đoàn gồm Ðại tá Tín và các Sĩ quan thuộc Tiểu khu, Thiếu tá Hải và Thiếu tá Holland. Tôi đứng trên soái đỉnh chỉ huy bên cạnh Ðại tá Tỉnh trưởng, giải thích và hướng dẫn cho vị Sĩ quan Bộ binh này biết về các công tác tuần tiểu, phục kích của các đơn vị thuộc Liên Ðoàn "Hổ Biển". Những địa danh nổi tiếng nơi đã xảy ra các cuộc chạm súng và các cuộc hành quân thủy bộ đầy gian nguy như Cẩm Thanh, Ðập Lỡ, Ðồng Bò, Cầu Sập...được Thiếu tá Hải chỉ trên hải đồ và trên địa thế thật sự cho Ðại tá Tín. Tiếng máy tàu vang dội hai bên bờ lau sậy của con sông Thu Bồn trở nên nhỏ lại khi chiến đỉnh càng đi lên về phía tây, nước sông chảy nhẹ uốn khúc qua các bờ đất dựng cao với các cây cối mọc rải rác khắp nơi.
Khi đi ngang qua một khu đất gần Ðập Lỡ, Ðại tá Tín và tôi vẫy tay chào quân nhân thuộc tiểu đội Ðịa phương quân đang trú đóng tại đây. Những người lính chiến vội vàng nhảy ra khỏi các chiếc võng treo giữa hai thân cây tùng, đưa tay lên chào khi nhận ra vị Tiểu khu trưởng. Chiến đỉnh tiếp tục giang hành về khu vực hành quân cách đây khoảng hơn bốn cây số, nơi một Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đang dùng các xe ủi đất khai quan khu rừng kế cận mật khu Ðồng Bò của Việt Cộng để toán Ðiện thám của Thiếu tá Holland vào đặt máy điện tử hầu có thể theo dõi hoạt động của đơn vị Cộng sản tại mật khu này và gọi pháo binh tiêu diệt khi phát hiện địch quân.
Ðang ngắm cảnh trời mây nước, bỗng nhiên mọi người giật mình khi nghe tiếng nổ "ầm" vang lên từ phía đóng quân của tiểu đội Ðịa phương quân mà chiến đỉnh vừa chạy ngang qua. Thiếu tá Hải Duyên đoàn trưởng Duyên đoàn 14 gọi máy PRC-25 liên lạc rồi quay lại báo cáo cho Ðại tá Tỉnh trưởng và tôi là một lính Ðịa phương quân bị thương nặng vì vừa đạp phải một bẫy mìn của du kích Việt Cộng gài gần địa điểm khi anh ta đi kiếm chỗ để tiểu tiện. Phòng hành quân Tiểu khu đã nhận được báo cáo và trực thăng tải thương đang trên đường đến di tản thương binh này về bệnh viện để giải phẫu.
Mìn bẫy là chướng ngại vật rất thông dụng và có hiệu quả lớn mà Việt Cộng tại khu vực tỉnh Quảng Nam đang tăng cường xữ dụng để bảo vệ các căn cứ địa Cộng sản, ngăn ngừa và gây thiệt hại cho các đơn vị hành quân của Liên Ðoàn "Hổ biển", Lữ đoàn Thanh Long Ðại Hàn và những Tiểu đoàn Ðịa phương quân thuộc Tiểu khu.
Mặt trời đã lên cao tỏa tia nắng ấm cúng trên vùng đất nhỏ mà chiến tranh và thương vong có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Từ xa xen lẫn vào tiếng máy tàu, văng vẳng lại là động cơ xe ủi đất của đơn vị Công binh thuộc Thủy quân lục chiến Mỹ. Tôi quay lại ra lệnh cho Thiếu tá Hải chỉ thị hai ghe Thiên Nga lên án ngữ tại phía bắc và hai ghe Ferrous Cement nằm tại phía nam, rồi bảo thuyền trưởng Giang tốc đỉnh chuẩn bị ủi vào bờ. Bãi cát nằm cạnh hai cây sồi là nơi thuận tiện cho mọi người, tôi nắm chặt cây súng M18, vũ khí tùy thân quen thuộc của mình, nhảy xuống trước, kế đến Thiếu tá Holland và Ðại tá Tín tiếp tục nhảy lên bờ. Trước mặt chúng tôi là một xe ủi đất lớn của Công binh Hải quân Hoa kỳ( Sea Bees) đang được một quân nhân ở trần trùng trục điều khiển, chạy lui chạy tới đốn ngả các thân cây và bụi rậm để khai quang làm thành một con đường đất đi sâu vào khu rừng phía trước mặt. Thiếu tá Holland đưa tay lên chào người lính thuộc đơn vị bạn. Ðại tá Tín và tôi cũng đưa tay lên vẫy về phía người lính đồng minh không quen biết này.
Toán Ðiện thám không để mất thì giờ, bốn nhân viên biến mất sau lùm cây sầm uất với dụng cụ điện tử và vũ khí cá nhân. Những người lính Hải quân Hoa kỳ chuyên nghiệp đã quen thuộc với công tác đặt máy dò thám mà họ đã thi hành lâu năm kể từ ngày dụng cụ và kỹ thuật này được áp dụng một cách rất hiệu nghiệm trên chiến trường Việt Nam. Hằng đêm ngồi tại phòng hành quân đơn vị, các chuyên viên trực phiên nghiền ngẫm chăm chú lắng nghe những tín hiệu gửi về từ các máy điện tử đã được họ bí mật chôn dấu và gài sẵn trước trên các lộ trình chuyển quân của Việt Cộng rồi gọi đơn vị pháo binh bạn bắn tiêu diệt Lực lượng địch khi nhận tín hiệu phát hiện sự di chuyển của Cộng sản.
Sau khi thăm hỏi các Sĩ quan và quân nhân đơn vị Thủy quân lục chiến đang hành quân tại đây, phái đoàn tham dự buổi thuyết trình "bỏ túi" do tôi trình bày dưới bóng mát cây tùng bên ven rừng, trong khi chờ đợi toán Ðiện thám hoàn tất công tác đặt máy thăm dò điện tử. Một kế hoạch phục kích và hành quân mới theo ý kiến và đề nghị của tôi và Thiếu tá Hải được Ðại tá Tiểu khu trưởng nhiệt liệt khen ngợi , khuyến khích và chấp thuận thi hành kể từ tối hôm đó để chận đứng sự đe dọa và thiệt hại do Việt Cộng pháo kích hằng đêm vào thị xã Hội An, đồng thời nâng cao tinh thần của dân chúng đang hoang mang, sợ sệt vì phi pháo của Cộng sản. Theo kế hoạch mới này, sau khi điều nghiên các vị trí chiến lược nối liền với mật khu của Cộng sản, cũng như vũ khí mà địch thường xữ dụng để pháo vào thị xã Hội An trong thời gian gần đây, mỗi đêm Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm sẽ chỉ định 2 Giang tốc đỉnh (PBR) với khả năng chạy nhanh và hỏa lực mạnh phục kích tại địa điểm nghi ngờ Cộng sản đặt hỏa tiển 122 ly có tầm bắn xa; 1 Duyên tốc đỉnh(PCF) và 2 chiến thuyền của Duyên đoàn nằm kích tại vị trí nghi ngờ Việt Cộng có thể đặt súng cối 81 ly với tầm xa trung bình có thể pháo vào Tiểu khu. Mục đích là để xữ dụng, phối hợp khả năng các chiến đỉnh, chiến thuyền và có thể phản pháo tức thời để tiêu diệt khi địch vừa khai hỏa. Ðịa điểm kích sẽ thay đổi hằng đêm, thỉnh thoảng một toán kích gồm các nhân viên toán bắn sẻ Hoa kỳ và thủy thủ của Duyên đoàn tháp tùng với các chiến đỉnh, chiến thuyền trong các cuộc phục kích mà tin tình báo cho biết về sự hoạt động của địch có thể xảy ra trong những đêm hôm đó.
Khi công tác đặt máy Ðiện thám đã hoàn tất, phái đoàn trở về Tiểu khu vào buổi chiều cùng ngày. Thiếu tá Holland vào phòng hành quân của Hoa kỳ rồi vội vàng trở lên văn phòng làm việc của tôi tại Tiểu khu, mặt mày hớt hơ hớt hải thông báo cho tôi biết một tin buồn kinh hoàng; ông ta nói rằng người lính Thủy quân lục chiến và chiếc xe ủi đất hồi sáng sớm đã tan tành khi xe chạy qua một quả bom 250 kí lô mà trước đây Không quân oanh tạc khu vực này, không nổ và Việt Cộng đã gài bẫy trở lại. Người lính Thủy quân lục chiến đã chết ngay tại chỗ bên cạnh những gì còn lại của chiếc xe khổng lồ này. Tôi giật mình cảm thấy ớn lạnh và nổi da gà khi nghe tin nói trên vì mới sáng nay, tất cả mọi người trong phái đoàn đã ngang nhiên đi trên vùng đất đầy mìn bẫy đó. Thật là may mắn được sống còn, âu cũng là số mệnh, làm sao tôi có thể tránh được cảnh mìn nổ đạn bay, cũng như mấy năm trước đây, tôi đã thoát chết trong gang tấc khi tham dự vào những trận tác chiến đêm tại Vùng Biển Ðen, phía bắc Vĩ tuyến 17.
*****
Thắm thoát tôi xuống nhận chức vụ tại Hội An được gần hai tháng, kế hoạch mới của Thiếu tá Hải và của tôi đã phần nào có hiệu quả, lúc đầu địch pháo hầu như cứ hai đêm một lần, ban đầu Việt Cộng bắn vào khoảng ba bốn trái hỏa tiển 122 ly hoặc súng cối 81 ly từ phía tây bắc của thành phố, sau đó mỗi lần vừa bắt đầu pháo kích, đặc công địch bị các chiến đỉnh phản pháo ngay tức khắc nên im luôn. Rồi sau đó có lẽ sợ khiếp vía, Việt Cộng chỉ pháo lẻ tẻ một tuần một lần và trong tuần lễ qua, lần đầu tiên, dân chúng thị xã Hội An được ngủ ngon giấc vì không phải thức dậy giữa đêm khuya, vợ chồng bồng bế con thơ chạy xuống hầm trú ẩn tránh đạn pháo kích của Cộng sản.
Vào một buổi tối không trăng, đầu tháng 5 năm 1969, khoảng 12 giờ rưởi sáng, Thiếu tá Holland, Thiếu tá Hải và tôi theo 2 Giang tốc đỉnh, Duyên tốc đỉnh, một cặp ghe Yabuta, nhân viên bắn sẻ cùng với toán kích của Duyên đoàn vào kích tại mật khu Cẩm Thanh, cạnh căn cứ Duyên đoàn 14, mục đích oanh kích, tiêu diệt và gây hoang mang tinh thần cán binh Việt Cộng nằm trong bán đảo này. Tất cả đơn vị vào vị trí phục kích sau khoảng nửa giờ giang hành, các chiến đỉnh tắt máy nằm chờ, anh lính bắn sẻ Hoa kỳ sẵn sàng với cây súng nòng dài, đang điều chỉnh ống nhắm hồng ngoại tuyến, chĩa súng về khóm dừa nước trên bờ sông phía bên trái, nơi nghi ngờ địch quân xuất hiện. Tôi lấy chiếc ống nhòm hồng ngoại tuyến, quan sát về phía bờ xa. Bỗng nhiên từ dưới cụm dừa nước, một bóng đen bò lên, rồi đứng dậy, tay cầm một khẩu súng trường. Thiếu tá Holland vừa quan sát trong ống nhòm nhìn đêm, vừa vỗ vai quân nhân bắn sẻ như ra lệnh; một tiếng "phụt" nghe thật nhỏ từ nòng súng dài, tôi thấy xuyên qua ống nhòm, thân hình của tên Việt Cộng nhào ngửa về phía sau vì trúng đạn, chết không kịp la, có lẽ não bộ đã bị tan tành vì viên đạn bắn sẻ xuyên qua đầu hắn. Thế rồi từng tia đạn bắn ra từ rặng dừa nước về phía giữa sông "tạch...tạch...tạch", nước văng lên tung tóe dưới làn đạn lân tinh vạch thành vòng cung với tia sáng trong đêm tối mịt trời. Tôi biết địch quân chỉ bắn hoảng, không biết chiến đỉnh đang nằm sát cạnh bờ, vì thế tôi ra lệnh chiến đỉnh nổ máy tàu và phản pháo mạnh. Trên tần số máy PRC-25 tôi nghe tiếng Thiếu tá Hải chỉ thị các chiến đỉnh chạy đội hình hàng Một, dọc theo bờ đảo Cẩm Thanh, bắn hỏa châu sâu vào địa điểm của địch và tác xạ về phía tả hạm của đội hình về phía các vị trí của Cộng quân. Tiếng súng đại liên 12 ly7 trên các Giang tốc đỉnh, Duyên tốc đỉnh hòa lẫn với súng tiểu liên, tiếng "phụt...phụt" của súng cối 60 ly bắn từ các ghe Yabuta, súng cối 81 ly bắn trực xạ từ Duyên tốc đỉnh nghe " đùng... đùng... đùng....tạch...tạch...tạch" xóa tan sự im lặng của vùng trời Cẩm Thanh và làm rực sáng màn đêm đang phủ kín muôn trùng.
Cuộc tác xạ hải pháo kéo dài trong vòng gần nửa giờ, khi các công sự chiến đấu của Việt Cộng bên cạnh rừng dừa nước tại các địa điểm phòng thủ của Cộng sản bị phá tan tành cùng với những xác chết không toàn thây của cán bộ nằm vùng, tôi ra lệnh cho tất cả chiến đỉnh ngưng bắn và hải hành về căn cứ. Ngày hôm sau và liên tiếp trong những ngày của tuần lễ cuối tháng 5, các chiến thuyền, chiến đỉnh của Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm " Hổ Biển" phong tỏa bán đảo Cẩm Thanh, ngăn chận sự đào thoát của quân lính Cộng sản ra khỏi mật khu này cho đến khi 2 Tiểu đoàn Ðịa Phương quân của Tiểu khu mở cuộc hành quân phối hợp với Liên Ðoàn, tấn công và đổ bộ sâu vào đảo Cẩm Thanh và tiêu diệt các đơn vị Cộng sản đồn trú tại mật khu này vào tháng 6 năm 1969.
Trong một buổi trưa hè tháng 7, khoảng 1 giờ chiều, tôi và Thiếu tá Holland đang ngồi nói chuyện tại phòng ăn Duyên đoàn 14, Sĩ quan hành quân đi vào đưa tay lên chào rồi mời tôi xuống phòng hành quân vì có Thiếu tá Hải xin gặp trên máy truyền tin, Hải đang chỉ huy 4 chiến thuyền của Duyên đoàn tham dự cuộc hành quân hỗn hợp với 2 Ðại đội thuộc Lữ Ðoàn Thanh Long Ðại Hàn, tại vùng kiểm soát của Lữ Ðoàn bạn này. Thiếu tá Hải yêu cầu tôi dùng Giang tốc đỉnh đi tiếp cứu 2 ghe Chủ Lực đang bị mắc cạn tại vùng có áp lực mạnh của Việt Cộng. Lập tức tôi và Thiếu tá Holland, lấy nón sắt, áo giáp và vũ khí, cùng hai quân nhân Mỹ trong toán bắn sẻ chạy xuống bến tàu, lên bốn chiếc Giang tốc đỉnh đang nổ máy sẵn sàng khởi hành rồi xã hết máy tiến "Full", hải hành về phía tây của căn cứ, nơi đang xảy ra trận giao tranh quyết liệt giữa đơn vị Ðại Hàn và Cộng sản.
Khi đến nơi, tôi dùng máy liên lạc với Thiếu tá Hải, lúc đó đang dùng dây cáp kéo 2 chiến thuyền mắc cạn và được yêu cầu yểm trợ về phía trước cho đơn vị của Thiếu tá Hải. Các Giang tốc đỉnh nổ súng đại liên 50 vào các vị trí Cộng sản và dưới hỏa lực hùng hậu của các Giang tốc đỉnh, địch hoảng sợ bỏ chạy, để lại xác chết nổi lềnh bềnh bên cạnh đám rong bèo dật dờ trôi theo dòng nước. Một nhân viên Mỹ trong toán bắn sẻ lấy dây buộc vào cổ của một xác chết Việt Cộng, cột sau lái chiếc PBR với ý định kéo về đơn vị làm chiến lợi phẩm, thích thú chỉ chõ cười đùa với quân nhân thứ hai; đây là một hành động dã man, vô nhân bản làm tôi nổi nóng và hầm hầm muốn làm dữ với người lính Mỹ này, đến nỗi Thiếu tá Holland phải đến xin lỗi tôi và hứa sẽ có biện pháp trừng phạt khi về đến đơn vị. Chiến tranh thù hận một lần nữa suýt làm lạc hướng chính nghĩa và lý tưởng chiến đấu cho tự do và dân chủ của toàn thể quân nhân và dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới vì những thành phần vô trách nhiệm, thích cảnh giết chóc và ưa trả thù.
*****
Những chuyến phục kích đêm với các chiến đỉnh thuộc Giang đoàn 57 Tuần thám và Hải đội 1 Duyên phòng đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp, chận đứng hoạt động pháo kích hằng đêm của Cộng sản vào các đơn vị bạn trong lãnh thổ Tiểu khu Quảng Nam kể từ thượng tuần tháng 6 cho đến cuối tháng 9 năm 1969. Những Sĩ quan trẻ tuổi tài ba của Hải quân Việt Nam, Thuyền trưởng các Duyên tốc đỉnh (PCF) đặc biệt là Hải quân Trung úy Trịnh Thiếu Sinh, được các chiến hữu gọi là "Sinh râu", đẹp trai cao ráo có bộ râu mép "Clark Gable" quyến rũ vớiụ biệt tài vận chuyển tàu và lòng quả cảm gan dạ mỗi khi chạm địch làm tôi nể phục và hãnh diện là người chỉ huy của vị Sĩ quan tương lai của Quân chũng áo trắng này.
Nhiều đêm tại vị trí phục kích, ngồi trên boong chiến đỉnh gần sau lái chiếc PCF, trong chiếc áo giáp, đầu đội nón sắt, khẩu M 18, vũ khí tùy thân quen thuộc dựng bên cạnh pháo tháp khẩu 81 ly, tôi lắng nghe lời tâm sự của những chiến hữu trẻ tuổi, đàn em, những hải âu vừa rời mái trường Mẹ Hải quân tại Nha Trang, về mộng ước tương lai, về cuộc sống hải hồ trên biển cả đại dương. Tôi cảm thấy một niềm hy vọng và vui mừng vì biết Hải quân đã có những tài năng son trẻ nhiều nhiệt huyết, đầy lý tưởng có thể gánh vác đại cuộc và duy trì truyền thống của Ðức Thánh Tổ Trần Hưng Ðạo. Tuy nhiên trước đó tôi cũng đã chỉ thị cho các Thủy thủ đoàn chiến đỉnh không được nấu nướng thực phẩm phủ phê do Hoa Kỳ vừa chuyển giao lại như thịt gà, beefsteak... trong khi đi phục kích đêm, vì mùi thơm của gà rô ti và mùi tỏi gia vị ướp thịt nướng sẽ bay xa trong đêm tối gió nhiều và báo động cho Việt Cộng biết vị trí của các Giang đỉnh đang thi hành công tác, rất nguy hiểm và làm bại lộ cuộc hành quân.
Vào trung tuần tháng 8 năm 1969, Thiếu tá Holland và tôi nhận được báo cáo về các máy điện tử đã được gài trong mật khu Ðồng Bò đã ngưng phát tín hiệu, có lẽ vì hết "battery" hoặc bị thiêu hủy vì đạn pháo binh bạn và cần được thay thế bằng các máy điện tử mới. Tôi lên gặp Ðại tá Lê Trí Tín, báo cáo sự kiện, đồng thời thông báo là đầu tuần tới, tôi sẽ chỉ huy 7 Giang đỉnh, cùng với toán Ðiện thám và tiểu đội thám kích của Duyên đoàn 14, khai thông giang lộ nằm về phía tây bắc thị xã, vào tận Cầu sập, để toán Ðiện thám vào gài máy dò thám phía sau mật khu Ðồng Bò. Ðể bảo mật và tránh thiệt hại cho các đơn vị hành quân, tôi xin Ðại tá Tín chỉ ra lệnh cho Pháo binh Tiểu khu sẵn sàng yểm trợ khi được tôi yêu cầu trong trường hợp đơn vị bị tấn công bất ngờ bởi Lực lượng đông đảo của Việt Cộng. Tôi cũng báo cáo cho vị Tiểu khu trưởng biết là Thiếu tá Holland đã được chấp thuận bởi Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Ðà nẳng biệt phái một phi cơ quan sát, bay thường trực trên đội hình chiến đỉnh và hai khu trục phản lực cơ F4- Phantom sẵn sàng bay xuống để phụ trách không yểm cho cuộc hành quân.
Sáng ngày D, một Duyên tốc đỉnh, 4 Giang tốc đỉnh và 2 ghe Yabuta khởi hành từ hậu cứ Duyên đoàn 14 khi trời còn chưa sáng, trực chỉ thượng giòng sông Thu bồn qua hướng Ðập Lỡ để tránh tình báo địch tại các địa điểm chung quanh khu vực sông gần thị xã Hội An. Mặt trời vẫn còn say ngủ dưới chân trời xa về hướng cửa biển Phai Phô, trăng lưởi liềm hạ tuần treo lơ lửng trên bầu trời lấp lánh ánh sao đêm. Tôi nhìn lên chùm sao Ðại Hùng to lớn trên đỉnh đầu và sao Bắc đẩu nằm chếch về hướng hai giờ, thầm cầu nguyện Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát như thường lệ mỗi lần tôi sắp đối đầu với gian nguy trong đời mình.
Vào khoảng 6 giờ rưởi khi tia nắng đầu ngày bắt đầu rọi sáng dòng sông nhỏ, mặt trời từ từ lên cao qua rặng cây chếch sau lưng phía hữu hạm đội hình, trên không tôi đã nghe tiếng máy bay thám thính bay ngang qua đầu. Thiếu tá Holland cho tôi biết đây là phi cơ biệt phái cho cuộc hành quân đặc biệt ngày hôm nay. Tôi cảm thấy yên tâm hơn khi được không yểm cho một chuyến công tác đi vào lãnh hải cấm địa của địch quân, một vùng mà trước đây chưa có một chiến đỉnh nào dám vào tuần tiểu. Khi đến "Check Point Alpha", nơi xa nhất tại thượng giòng sông Thu Bồn mà Duyên tốc đỉnh (PCF) có thể vào được, tôi ra lệnh cho Trung úy Hòa, Thuyền trưởng chiến đỉnh này thi hành chỉ thị đã được giao phó từ trước, đó là nằm án ngữ, yểm trợ hải pháo bằng khẩu 81 ly và súng đại liên 12 ly 7 cho đoàn tàu khi rút lui trở về, duy trì liên lạc truyền tin với Lực lượng hành quân và Tiểu khu cũng như với Bộ Tư Lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải. Sau đó lệnh "Nhiệm sở tác chiến" được ban hành và 6 chiến đỉnh còn lại theo đội hình "India", hàng dọc tiếp tục giang hành vào vùng sông tử địa. Hai bên bờ vách tường đất dựng đứng thẳng lên với rừng cây xanh um bao phủ đỉnh đồi, địa điểm lý tưởng và thuận lợi cho các cuộc phục kích của địch quân. Sông Thu Bồn uốn khúc về phía trái khi đi sâu vào hướng núi, chim chóc không cất tiếng hót, không gian im lìm dễ sợ, không một thuyền đánh cá trên dòng sông nước chảy đục ngầu, mọi người chỉ nghe tiếng máy phom phom của ống phun nước sau lái PBR, Giang tốc đỉnh có thể chạy với vận tốc tối đa 25 knots khi tác chiến với hỏa lực gồm hai cây đại liên 50 phía mũi và một đại liên 50 sau lái tàu. Thiếu tá Holland chỉ cho tôi vị trí của 2 Giang tốc đỉnh Mỹ trước đây bị phá tan vì bộc phá của Việt Cộng, khi tôi sắp sửa đáo nhậm chức vụ Chỉ huy trưởng Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển". Trên không chiếc thám thính cơ màu xám nhạt vẫn tiệp tục bay vần quanh, quan sát khu vực hành quân, thỉnh thoảng viên phi công liên lạc thử máy truyền tin và cập nhật tin tức thám sát cho Thiếu tá Holland.
Với kinh nghiệm rút tỉa từ những chuyến công tác đêm ngoài bắc khi còn phục vụ tại Lực Lượng Hải Tuần, tôi biết chắc, nếu Việt Cộng muốn tấn công đơn vị của tôi, địch sẽ chờ khi các chiến đỉnh trên đường trở về, nhân viên mệt mõi và lơ là, chúng sẽ phục kích và tác xạ vào đoàn tàu tại những gành cong uốn khúc của sông Thu Bồn. Tôi nói cho Thiếu tá Holland và Thiếu tá Hải biết về nhận xét của tôi và hai vị Sĩ quan nhiều kinh nghiệm chiến trường này cũng rất đồng ý và chuẩn bị đề phòng. Toán thám kích Duyên đoàn tháp tùng theo 2 chiến thuyền Yabuta, hỏa lực gồm có súng cối 60 ly và đại liên 12 ly 7 với vận tốc khá nhanh và dễ vận chuyển được điều khiển bởi các Hạ Sĩ quan Thuyền trưởng thâm niên, kinh nghiệm trận mạc và gan dạ nhất của Duyên đoàn 14. Sáu giang đỉnh và chiến thuyền tiếp tục lộ trình trên dòng nước sông chảy khá mạnh về phía Hội An, ra cửa biển Phai Phô. Mặt trời đã lên cao trên đỉnh đầu, gió mát rượi thổi vào mặt tôi, đang trầm ngâm đứng cạnh người Cố vấn Mỹ.
Khoảng 10 giờ, Thiếu tá Hải trên ghe Yabuta báo cáo là đã đến địa điểm ấn định và đề nghị cho 2 chiến thuyền ủi bãi, thả toán thám kích lên bờ trước để án ngữ và bảo vệ cho 4 nhân viên Ðiện thám thi hành việc đặt những máy điện tử tối tân mới, có tầm hoạt động rộng lớn rất nhiều hơn các máy gài mấy tháng trước đây tại Ðồng Bò. Tôi chấp thuận và chỉ thị các Giang tốc đỉnh chạy dọc phía trên và phía dưới điểm đổ bộ, quan sát cẩn thận để yểm trợ toán quân trên bờ. Sau đó từ trên PBR chỉ huy, tôi dùng ống nhòm nhìn các chiến hữu của tôi đang thi hành nhiệm vụ. Lần này toán Ðiện thám chỉ đi vào sâu khoảng 100 thước từ bờ, đặt các máy móc gần cạnh con đường đất mòn chạy ngoằn ngoèo theo con sông Thu Bồn về hướng núi, có lẽ đây là con đường chuyển quân của các Lực lượng Việt Cộng và đặc công địch mà Phòng Tình báo Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I đã ghi nhận trước đây.
Công tác đặt máy báo động điện tử diễn hành thật tốt đẹp và không có biến cố gì xảy ra làm tôi ngạc nhiên và vui mừng, tuy nhiên nỗi lo âu cho chuyến trở về, qua các khúc sông nguy hiểm, uốn khúc với bức tường đất dựng cao hai bên bờ sông thuận tiện cho địch phục kích tấn công vẫn xâm chiếm tâm hồn tôi. Các nhân viên toán Ðiện thám thu dọn dụng cụ và chuẩn bị leo lên ghe Yabuta cùng lượt với tiểu đội thám kích Duyên đoàn 14 Hải quân. Tôi gọi máy nói chuyện với Thiếu tá Phan Tứ Hải, bàn định kế hoạch và sắp đặt đội hình các Giang tốc đỉnh và ghe Yabuta. Với kinh nghiệm chiến đấu thâu thập trong hơn hai năm chỉ huy Duyên đoàn hành quân tại vùng Hội An, Thu Bồn, Thiếu tá Hải đề nghị chỉ định cho 2 Giang tốc đỉnh(PBR) đi trước mở đường, tiếp theo đó là cặp Yabuta với các tay súng cá nhân, đại liên 50, súng phóng lựu và súng cối 60 ly, với vận tốc tương đối chậm so với các Giang tốc đỉnh; cuối cùng là hai PBR chạy phía sau để yểm trợ đoàn "convoy" chiến đỉnh. Ngoài ra Thiếu tá Hải còn xin được tác xạ vào các vị trí chiến lược hai bên bờ sông như gành đá, khúc quẹo, đồi đất cây cối sầm uất ... để tạo yếu tố bất ngờ gây hoang mang cho Việt Cộng trong trường hợp địch đang phục kích sẵn sàng và chờ đoàn "convoy" chiến đỉnh chạy ngang qua các vị trí này. Tôi thông dịch lại cho Thiếu tá Holland biết về đề nghị và kế hoạch triệt thối của Thiếu tá Hải và tôi hoàn toàn đồng ý và ra lệnh chuẩn bị khởi hành. Tôi yêu cầu Thiếu tá Holland gọi máy phi cơ thám sát và cho biết dự định của Hải quân, đồng thời báo cáo về Ðà Nẳng để 2 khu trục phản lực cơ F4-Phantom sẵn sàng trong trường hợp tôi cần không yểm. Sau đó tôi gọi máy cho Trung úy Hòa, Thuyền trưởng Duyên tốc đỉnh án ngữ tại cuối nhánh sông, chuẩn bị và sẵn sàng Hải pháo để bắn yểm trợ chiến đỉnh bạn đang trên đường trở về căn cứ.
Ðội hình các giang đỉnh bắt đầu di chuyển về phía nam đông nam theo hàng dọc, khoảng cách giữa các chiến thuyền chiến đỉnh chừng 75 thước với vận tốc tối đa của các ghe Yabuta đang tung làn khói mỏng trên dòng sông chật hẹp vào một buổi xế trưa đầu thu năm 1969. Chung quanh là tường đất dựng thẳng đứng, không gian như chìm hẳn xuống, không một bóng chim trời giống như "Thung lũng tử thần", tên của địa danh tại vùng đồi núi "Arizona" trong cuốn phim cao bồi mà tôi đã xem trước đây tại Ðà Nẳng. Mặt trời lấp ló sau rừng cây trên đỉnh đồi đất, vài tia sáng yếu ớt cố gắng len lỏi qua rặng cây già chiếu xuống lộ trình các chiến đỉnh đang lầm lũi chạy trên dòng sông cạn. Tiếng nói của Thiếu tá Hải chợt vang lên trên máy truyền tin:
-" Hải Âu đây Kình ngư, bắt đầu đốt pháo về phía hữu hạm hướng hai giờ, đỉnh đồi, trả lời."
Tôi vội vàng nhất ống nói của máy truyền tin và ra lệnh cho các chiến đỉnh:
-" Kình Ngư đây Hải Âu, nhận rõ, tất cả Hải Ngư bắt đầu đốt pháo, phía hữu hạm hướng hai giờ, đỉnh đồi, thi hành, hết."
Thế rồi tôi chỉ thị Thuyền trưởng chiếc Giang tốc đỉnh chỉ huy đang chạy ở vị trí 2, bắt đầu khai hỏa. Tiếng súng hải pháo, đại liên, tiểu liên..."tạch...tạch, đùng...đùng" nổ vang dội cả khúc sông Thu Bồn, các đàn chim quạ từ đâu bỗng giật mình tung cánh bay tán loạn trên mặt sông, đất đá, cây lá, gỗ bụi bay mịt mù trong không khí oai bức của một ngày cuối hè. Sau gần năm phút các chiến đỉnh bắn tới tấp và liên tục cho đến khi qua khỏi khúc quanh thứ nhất, tôi mới ra lệnh tất cả ngưng bắn vì vẫn không thấy phản ứng của Việt Cộng. Mọi người cảm thấy hăng say trong khói thuốc súng tỏa đầy không gian, tinh thần tôi vẫn căng thẳng vì đoạn sông còn dài, chưa đến chỗ 2 Giang tốc đỉnh Mỹ bị đánh đắm.
Tôi gọi máy cho tất cả giang đỉnh và nhắc nhở mọi người cẩn thận đề phòng, quan sát thật kỹ lưỡng hai bên bờ đất, bình tỉnh chống trả nếu bị tấn công bất ngờ, tôi tin rằng với kinh nghiệm hải nghiệp và chiến đấu, kế hoạch chu đáo của Thiếu tá Hải sẽ giúp tất cả chiến đỉnh và Thủy thủ đoàn an toàn. Từ xa, sông Thu Bồn uốn cong về phía tay mặt, hai bên bờ đất cao vời vợi là cây rừng rậm rạp, chạy dài gần hai cây số đến chỗ Giang tốc đỉnh Hải quân Hoa kỳ bị phá nổ trước đây. Tôi gọi máy ra lệnh 2 chiếc ghe Yabuta bắn bốn quả đạn súng cối 60 ly vào đỉnh đồi hai bên bờ sông. Sau tiếng nổ "phụt...phụt...phụt...phụt" là tiếng "ầm...ầm...ầm...ầm" khi các viên đạn mọt chê rơi xuống lùm cây trên bờ đất cao. Bỗng nhiên mọi người nghe tiếng nổ "bùng...oành" thật lớn, nước sông văng lên tung tóe, làm thành chiếc vẹm trời, cong vòng đầy màu sắc dưới ánh nắng buổi xế trưa, tôi la lớn vào máy truyền tin trong khi tiếng đạn đủ loại nghe điếc cả lỗ tai:
-" Hải Ngư, Hải Ngư đây Hải Âu, coi chừng địch đang bắn B40...B40, tất cả đơn vị tác xạ, tác xa tự do... nhận rõ thi hành, hết."
Trước mặt tôi, từ đỉnh đồi trên tường đất dựng đứng, những làn khói súng tỏa đầy về hướng các chiến đỉnh đang bình tỉnh phản pháo dữ dội bằng tất cả hỏa lực hùng hậu. Tiếng la ó trên máy truyền tin xen lẫn tiếng rít của đạn Cộng sản rồi tiếng nổ bùng trên mặt nước và tung tóe lên mặt mũi của tôi. Thiếu tá Holland đã gọi máy bay khu trục phản lực ngay khi viên đạn B40 nổ cạnh chiếc PBR dẫn đầu khi đoàn tàu chiến chưa đến khúc quẹo của điểm phục kích. Ðịch đã khai hỏa sớm hơn dự định vì bốn quả súng cối rơi trúng vào vị trí đặt súng của Việt Cộng trên ngọn đồi đất hai bên bờ sông.
Một chiếc ghe Yabuta bị trúng đạn tại đài chỉ huy, Thuyền trưởng và nhân viên lái tàu bị thương nhẹ, vẫn tiếp tục anh dũng chiến đấu. Tiếng nói hùng hồn của Thiếu tá Hải nghe khi được khi mất trong máy truyền tin, đang ra lệnh và hướng dẫn các ổ súng bắn vào mục tiêu địch từ ghe Yabuta chạy ở vị trí thứ tư của đội hình. Súng vẫn nổ rầm trời, ầm ĩ đến độ tôi không nghe tiếng Thiếu tá Holland báo cáo là hai phi tuần khu trục của Thủy quân lục chiến Hoa kỳ đang trên đường bay đến địa điểm hành quân và phi cơ thám thính đã hướng dẫn và cho vị trí địch để máy bay Phantom thả bom Napalm tiêu diệt. Mọi người bỗng nghe tiếng động cơ máy bay thật gần như đang bay qua đầu, rồi hai tiếng nổ "ầm...ầm" nối tiếp nhau, rung chuyển cả bầu trời như muốn phá tan màng nhĩ, một rừng lửa ngùn ngụt cháy bùng lên trên đỉnh đồi, nơi Cộng sản đặt súng bắn xuống đoàn tàu chiến, mùi khói xăng xông lên nồng nặc làm tôi muốn ngộp thở vì địa điểm bị phi cơ Mỹ thả bom quá gần vị trí các giang đỉnh, đang tiếp tục tác xạ và với hai máy tiến "Full" chạy ra khỏi vùng địch phục kích. Hai khu trục phản lực cơ bay trở lại lần thứ hai và bắn hỏa tiển không địa vào vị trí nằm sâu hơn trong bờ, có lẽ để tiêu diệt và chận đường rút quân của tàn quân Cộng sản. Tất cả trận chiến chỉ diễn tiến trong khoảng gần 20 phút nhưng đối với những chiến sĩ của Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển", thời gian này dài như không muốn dứt, họ đã chiến đấu để sống còn trong một địa thế và môi trường không thuận lợi cho việc tác chiến của mình khi các giang đỉnh chạy dưới một thung lũng và bị địch tấn công từ hai phía trên bờ cao. Kết quả là chỉ vài thủy thủ bị thương nhẹ, một chiếc đỉnh bị hư hại cần phải được kéo về căn cứ và hàng trăm lỗ đạn chằng chịt trên các thành tàu bằng sắt và bằng gỗ. Một lần nữa, Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu nạn cho người lính biển.
Hai tháng sau cuộc hành quân yểm trợ toán Ðiện thám Hoa Kỳ đặt máy điện tử tại mật khu Ðồng Bò, tôi nhận lệnh về giữ chức vụ mới tại Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải và bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Chiến dịch " Hổ Biển" cho người bạn học và cũng là chiến hữu thân mến của tôi, Thiếu tá Hải tiếp tục nhiệm vụ hành quân ngăn chặn các đơn vị Cộng sản và bảo vệ an ninh lãnh thổ cho dân chúng và chính quyền Quốc gia tại tỉnh Quảng Nam. Riêng Thiếu tá Holland, người hùng của Chiến dịch " Hổ Biển" trở về Hoa Kỳ sau khi mãn nhiệm kỳ phục vụ tại Ðà Nẳng một tháng sau ngày tôi rời Hội An.
Vào một buổi chiều khi cơn mưa giông cuối mùa thu bắt đầu che phủ thị xã Hội An, trên chiếc xe Jeep chỡ hành trang gồm một xách tay, cái nón sắt và chiếc áo giáp nằm bên cạnh khẩu M18 quí giá thân yêu, tôi nhìn lại thành phố nhỏ hơn thành phố Huế của tôi, như thầm từ giã vì biết mình sẽ không bao giờ trở lại nơi này, nhưng tôi cũng nhận thức rằng những gì đã xảy ra trong giai đoạn vừa qua sẽ không bao giờ phai nhạt trong ký ức của tôi.
Tôi sẽ không thể nào quên được kỷ niệm về các chuyến hành quân phục kích đêm sống chết trong gang tấc với người chiến hữu Hải quân, những buổi chiều vắng ngồi trong quán nước quen thuộc cùng người bạn học lính biển, bên cạnh ly cà phê đắng, đang phì phà điếu thuốc lá thơm, rồi với cây đàn Guitar bên tay trái, cất giọng ca ấm cúng truyền cảm, hát bài "Mùa thu chết", khi ngoài trời mưa bụi đang bay. Tôi nhớ đến những đêm trăng mười sáu sáng vằng vặc, ngồi ngắm ánh trăng vàng bên cạnh các chiến hữu thuộc Quân binh chũng bạn trên "Vọng Nguyệt Lầu", căn gác thượng tại nhà của Thiếu tá Chỉ huy trưởng Tiểu đoàn Công binh Chiến đấu ở Hội An, thưởng thức ly rượu Cognac nhiều chân tình, Hải và tôi, trong chốc lát bỏ lại sau lưng sự phiền toái của cuộc đời, quên hết những nguy hiểm trên trận mạc, chỉ biết say cùng men rượu và tình chiến hữu giữa những người trai trẻ đang hy sinh tất cả cuộc đời mình cho lý tưởng đã chọn, đó là xả thân bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ của quê hương dân tộc, ngọn cờ vàng mà đã nhiều lần, Thiếu tá Hải và tôi ngậm ngùi thương tiếc phủ lên quan tài mang thi hài của những người lính biển thân mến vừa tử trận và nằm xuống mãi mãi trong lòng đất lạnh và vòng tay ấm của Mẹ Việt Nam.
Virginia, Mùa hè 30 năm sau
Lê Bá Thông
ngay09
07-25-2007, 12:19 AM
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?ti...q83a3q3m3237nvn (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237ntn3n2n1n31n343tq83a3q3 m3237nvn)
19 chương - Mùa hè đỏ lửa - Phan Nhật Nam
NguyenDinhBao
07-25-2007, 11:06 AM
Trời ơi, mình chưa đọc hết trang này, chỉ đến phần của đại tá Hồ Ngoc Cẩn mà nước mắt đã trào ra khóe mắt rồi. Sao bọn CS lại có thể tàn ác đến như vậy, đọc Tam Quốc Diễn nghĩa mà một người gian hùng như Tào Tháo cũng đâu có tàn ác như bọn lang sói này. Sau khi đánh bại Viên Thiệu bắt được Trần Lâm kẻ đã hịch tội Tháo mà Tháo phải toát mồ hôi thì cũng chỉ "mũi tên đã đặt trên cung ko thể ko bắn" mà tha cho hay khi bắt Trương Liêu ở Hợp Phì, cảm khái trước chí khí anh dũng mà ko giết. Tội ác tày trời này sẽ được lịch sử ghi lại, tiếng xấu sẽ truyền đến muôn đời còn nhưng tấm gương chói lọi như đại tá Cẩn chuẩn tướng Hưng, thiếu tướng Nam sẽ được vang danh trong sử sách cho dù VC cố làm mọi cách xóa nhòa.
ngay09
08-03-2007, 03:08 PM
Ðơn vị không có binh nhì
Khi quân cộng sản xâm lăng Bắc Việt hoạch định kế hoạch tấn công thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh, nơi đặt đại bản doanh của BTL/ SÐ18BB/ QLVNCH, chúng đã không tiên liệu được sức kháng cự anh dũng và mãnh liệt của quân trú phòng. Sư đoàn 18 BB/ QLVNCH được đặt dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo, xuất thân khóa 10 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, kể từ ngày 4 Tháng Tư, 1972.
Là một tướng lãnh trẻ, năng động, và rất được lòng quân sĩ thuộc cấp; ông là nhân tố quan trọng của chiến thắng Xuân Lộc vang dội, làm địch quân phải khiếp sợ, bạn bè kính nể. Các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ đã không ngớt ca ngợi chiến công to lớn này, kể cả những nhà báo thân cộng sản. Ta có thể không ngoa chút nào khi đem so sánh trận chiến Xuân Lộc (XL) năm 1975 với trận chiến Ðiện Biên Phủ (ÐBP) năm 1954.
Năm 1954, tại lòng chảo ÐBP, Bắc Việt, Việt Minh với quân số áp đảo và địa thế thuận lợi, sau 55 ngày đêm bao vây, đã gây cho quân đội trú phòng của Ðại Tá de Castries (được thăng thiếu tướng ngay tại mặt trận) 8.000 thương vong, và khi trận chiến kết thúc, 9.500 quân sĩ bị bắt làm tù binh (kể cả vị chủ tướng de Castries). Người Pháp coi đó là cuộc thua trận nhục nhã, Việt Minh coi đó là một thắng lợi vẻ vang. Trận chiến ÐBP năm 1954 đưa đến việc ký kết Hiệp Ðịnh Geneve năm 1954 chia đôi lãnh thổ, bất lợi cho người Việt Quốc Gia.
Năm 1975, tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh, Nam Việt, tương quan lực lượng của hai bên là 6 (quân CSBV) và 1 (quân trú phòng). Trong dân gian có câu: Ba đánh một, không chột cũng què! Nhưng đàng này bên một, đã không chột, cũng không què. Trái lại bên sáu đã vừa chột, lại vừa què! Khiến Bộ Chính Trị CSBV phải họp khẩn, chỉ thị Tướng Trần Văn Trà, chỉ huy quân Việt Cộng miền Nam xuống tận bản doanh quân đoàn 4 của Tướng Việt Cộng Hoàng Cầm trong vùng đồn điền cao su Bình Lộc ở hướng Bắc của XL xem xét thực tế chiến trường. Lê Ðức Thọ, tên Thái Thượng Hoàng của triều đình đỏ CSBV phải thú nhận trước thực tế, để rồi chỉ thị: “...Kết cục là anh em ta không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra”. Và cuối cùng, kế hoạch tiến chiếm thủ đô Sàigòn phải thay đổi toàn bộ. Do đó người bạn đồng minh Hoa Kỳ của chúng ta mới có đầy đủ thì giờ để sắp xếp kế hoạch cuốn cờ, và người dân Sàigòn cũng như người dân miền Nam có máu mặt, tự cho mình là thông hiểu thời cuộc, kịp thời di tản đi ra ngoại quốc trước, mặc cho “việc nước, việc dân” để những kẻ “ngu” lo.
“Chỉ huy là tiên liệu”, đó là điều mà bất cứ một cấp chỉ huy nào dù lớn nhỏ của QLVNCH đều phải biết. Nhưng qua trận chiến Xuân Lộc, ta có thể kết luận, tướng tá của quân CSBV không qua một trường lớp nào cả, kể từ Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Hoàng Cầm... đều chỉ là những tên du kích “răng đen mã tấu” gặp thời mà ăn nên làm ra, nên chẳng biết bài học “tiên liệu”. Ngay cả tên Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp của chúng, bậc thầy của cái gọi là QÐND của CSBV, cũng chỉ thụ huấn một thời gian ngắn tại trường Võ Bị Hoàng Phố bên Tàu. Giáp thắng Pháp bởi vì Giáp coi sinh mạng của quân sĩ dưới quyền chỉ là công cụ của đảng, Giáp không coi sinh mạng của con người là vốn quý của tạo hóa. Do đó sở trường của Giáp là “nướng quân”. Giáp luôn luôn sử dụng chiến thuật biển người trong tất cả các cuộc tấn công. “Ba đánh một không chột cũng què”. Ðó là câu thần chú mà Giáp đã thuộc nằm lòng.
Trong quyển “Ðại thắng Mùa Xuân”, Văn Tiến Dũng, tên đại tướng cộng sản, chỉ huy đoàn quân xâm lăng CSBV khoác lác: “Cán bộ tham mưu đã không kịp vẽ bản đồ cho bước tiến quân của bộ đội”. Vậy thì 12 ngày đêm bị cầm chân, phải giậm chân tại chỗ với hơn 6 ngàn chiến sĩ của hắn bị phơi thây, 37 xe tăng bị phá hủy tại Mặt Trận Xuân Lộc, thử hỏi Dũng đã đủ thì giờ cho cán bộ của hắn vẽ bản đồ chưa? Hay là đã phải than thân trách phận như nữ nhi thường tình: “Mặt Trận Xuân Lộc đã ác liệt và đẫm máu từ những ngày đầu tiên...”
Quân đoàn 4 CSBV với 3 sư đoàn 6, 7, và 341, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Hoàng Cầm, và chính ủy QÐ là Thiếu Tướng Hoàng Thế Thiện. Trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp, Cầm từng là tiểu đoàn trưởng tham dự trận ÐBP năm 1954. Nhưng hào quang ÐBP năm nào cũng không giúp được cho Cầm làm nên “cơm cháo” gì, trái lại đã “thân bại danh liệt” khi đơn vị của hắn đụng phải SÐ thép 18 BB/ QLVNCH. Tên chính ủy QÐ4/ CSBV Hoàng Thế Thiện đã dối trá, trấn an các cán binh của hắn như sau: “Tôi nhắc lại, Sàigòn là mục tiêu cuối cùng chứ không phải Xuân Lộc...! Các đồng chí cần phải giải thích cho cán bộ và chiến sĩ hiểu vì sao chúng ta không tung hết lực lượng vào mặt trận Xuân Lộc trong lúc này”.
Thật sự quân xâm lăng CSBV đã tung hầu hết lực lượng của chúng vào mặt trận. Ngày 15/4/75, chúng đã tăng viện thêm SÐ 325, và điều động SÐ 10, SÐ 304 vào vị trí. Tổng cộng CSBV đã sử dụng 6 SÐ. Lấy sáu chọi một, chúng nghĩ rằng nhất định SÐ 18 BB phải chết. Nhưng chúng đã lầm, lầm to! Kết quả của trận đánh ác liệt và đẫm máu kéo dài 12 ngày đêm: hơn 6,000 cán binh cộng sản bị phơi thây tại chỗ, 37 xe tăng và xe bọc thép của địch bị phá hủy. Ngoài ra, con số thương vong địch do pháo binh và không quân gây ra, một con số đáng kể, nhưng không kiểm chứng được. Chỉ riêng hai trái bom BLU-82 (Daisy Cutter) đã san bằng căn cứ hậu cần trong vùng đồn điền cao su Bình Lộc với nhiều đạn pháo, lương thực, thuốc men, xăng dầu; cùng gây thương vong cho lối 3.000 quân CSBV. Về thiệt hại của quân bạn được ghi nhận là 30%. Riêng chiến đoàn 52 là 60%.
Không chiếm được Xuân Lộc để mở đường cho việc tiến chiếm Sàigòn, CSBV buộc phải thay đổi kế hoạch. Chúng chỉ để lại quân đoàn 4 bám sát và cầm chân SÐ 18, làm lực lượng trừ bị QÐ2/ CSBV, sau khi đã làm chủ được Phan Rang, chúng được lệnh tránh né Xuân Lộc, đi vòng qua ngả Bình Tuy, Phước Tuy, theo QL 15 tiến lên đánh chiếm Biên Hòa. Cộng quân từ cao nguyên, từ Ðà lạt, Lâm Ðồng, theo QL 20 tiến về, hợp cùng cánh quân từ hướng QL 15 đánh chiếm Biên Hòa, uy hiếp Sàigòn.
Vì tình thế biến chuyển mau lẹ, để cứu Biên Hòa, cứu Sàigòn, buổi sáng ngày 20 Tháng Tư, 1975, hồi 9 giờ, trung tướng TL/QÐ3 cùng Chuẩn Tướng Hoàng Ðình Thọ, trưởng P3/ BTTM, bay vào Xuân Lộc và lệnh cho Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo, TL mặt trận, rút toàn bộ lực lượng tham chiến khỏi XL nội trong ngày. Hoàn trả LÐ1ND và TÐ82/BÐQ về BTTM/ QLVNCH; lực lượng tiểu khu Long Khánh về Phước Tuy. SÐ18 BB di chuyển về hậu cứ tại Long Bình để sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
Ðể tưởng thưởng những quân nhân hữu công tại Mặt Trận Xuân Lộc, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, quyền TTMT/ BTTM/ QLVNCH đã ban hành SVVT về việc ân thưởng cho tất cả quân nhân QLVNCH tham chiến tại Mặt Trận Xuân Lộc, mỗi người lên một cấp. Riêng Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo, TL/SÐ 18 BB kiêm TL/ Mặt Trận Xuân Lộc đã được Tổng Thống Trần Văn Hương vinh thăng đặc cách mặt trận lên cấp Thiếu Tướng kể từ ngày 25 Tháng Tư, 1975.
Và kể từ ngày đó, những đơn vị tham chiến 12 ngày đêm tại Mặt Trận Xuân Lộc đã không còn cấp binh nhì.
Bảo Ðịnh Nguyễn Hữu Chế
Cựu Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ2/43, SÐ18BB
ngay09
08-03-2007, 03:11 PM
Góc chiến trường xưa: Thư tiền tuyến, thư hậu phương
Gần đây trong những số báo của bán nguyệt san “KBC Hải Ngoại” có mục “Thư tiền tuyến, thư hậu phương” đã làm cho độc giả của tờ bán nguyệt san này được sống lại một “góc chiến trường xưa”. Cuộc chiến tranh tự vệ của miền Nam Việt Nam trước năm 1975, với cả một thế hệ tuổi trẻ đã, không chỉ để lại những đau thương mất mát mà còn để lại biết bao nhiêu kỷ niệm thương yêu mà mỗi lần nhắc tới là cả một dĩ vãng sống dậy.
Trang Cựu Chiến Sĩ VNCH xin được trích đăng lại một kỳ trong nguyệt san KBC Hải Ngoại về mục này.
Tiền tuyến-hậu phương
Thư tiền tuyến: Dương Thượng Trúc, munau11@hotmail.com, (316) 992-0862.
Thư hậu phương: Phượng Tím, phuongtimxua@yahoo.com.
Thư tiền tuyến
Nguyễn Văn Tân
HQ 2501, ngày... Tháng Tư, 1975
Em thương,
Anh viết thư này cho em mà rất ít hy vọng em sẽ nhận được. Phương tiện liên lạc an toàn nhất từ đây đến nhà mình chỉ còn là những thương thuyền nhỏ. Anh sẽ nhờ ông chủ thuyền quen với chúng ta đem thư về cho em dù ông ấy nói chưa chắc đã trở về nhà, có thể ông ta sẽ quay thuyền ra biển và đi đến bất cứ nơi đâu trên hành tinh này không có chủ nghĩa cộng sản.
Ông ghé tai nói nhỏ với anh: “Người ta đã ra đi hết rồi sao ông còn ở đây”. Anh nói: “Tôi không thể, tôi không thể...” “Tại sao không thể...?” Ông ta hỏi và anh trả lời: “Tôi không biết. Tôi có cắt nghĩa ông cũng không tin. Thôi...” Ông chủ thuyền hứa dù thế nào ông cũng gởi thư này đến em cho bằng được.
Tại Tiền Doanh Yểm Trợ... nơi em từng xuống thăm anh, đã có một buổi họp giữa anh và các sĩ quan trong đơn vị. Anh mở đầu một cách ngắn gọn: “Bây giờ không phải lúc dài dòng hay e dè. Tôi hỏi các anh: Liệu chúng ta có ở lại với cộng sản được không?”
Không đợi anh nói tiếp, Ðại Úy Ð. trả lời: “Thưa chỉ huy trưởng, không được đâu!” Ð. là dân Hà Tỉnh vượt biên vào Nam khá trễ, năm 1960. Anh ta có nhiều kinh nghiệm với những người cộng sản. Ð. nhìn anh, hình như ngạc nhiên về câu hỏi của anh, hỏi như vậy cũng như hỏi “liệu chúng ta có nên đi ở tù khổ sai không, có nên chết không”. Anh cảm thấy hổ thẹn với Ð. và nhìn lơ đi nơi khác. Rất may, ngay sau đó Giang Ðoàn được điều động lên tỉnh lỵ... Hôm đó là ngày 13 Tháng Tư, đúng 5 ngày sau khi tên Nguyễn Thành Trung ném bom dinh Ðộc Lập.
Giang Ðoàn vừa đến nơi, Ðại Tá B., trung đoàn trưởng một trung đoàn bộ binh và cũng là người chỉ huy hành quân của anh theo hệ thống ngang, nói với anh qua máy truyền tin PRC 25: “Hải Âu phải không? Gia đình anh thất nghiệp cho đến khi có lệnh. Cắm trại 100%. Ði đâu nhớ đem theo bồ câu. Phải cho nó thức 24/24.” “Dạ, nghe rõ Mặt Trời 5/5!”
Anh trả lời Ðại Tá B. và cùng vài sĩ quan lên xe quan sát địa thế chung quanh, máy truyền tin PRC.25 trên xe mở 24/24 như lệnh của Ðại Tá B. Phố xá rất ít người, mà mặt mày ai cũng không dấu được vẻ lo âu, khó tìm thấy một nụ cười dù chỉ là một cái mỉm trên khuôn mặt của họ. Hầu hết các cửa hàng đều đóng. Anh cố đưa mắt thử tìm mấy quán cóc bán sò huyết nướng trước đây nhưng không thấy đâu cả. Xe chạy ra phía Tây thành phố, giáp vịnh Thái Lan. Bấy giờ vào khoảng 6 giờ chiều. Mặt trời đang xuống dần.
Chắc em chưa có dịp nhìn mặt trời lặn trên biển đâu, em chỉ được nhìn mặt trời mọc trên biển. Mặt trời lặn trên biển đẹp lắm, có khi đẹp hơn mặt trời mọc trên biển. Nhìn nó mình cứ tưởng như trái đất vừa có thêm một mặt trăng nữa, to lớn, tròn vành vạnh và huyền ảo. Không có gió mạnh, nhưng biển vẫn có sóng. Ðó là sóng ngầm. Hồi đi tàu anh sợ nhất sóng ngầm. Nó giống như lưng một con quái vật khổng lồ, từ từ nâng chiếc tàu lên tận mây xanh rồi từ từ đưa tàu xuống trần gian. Vậy là bao nhiêu mật xanh, mật vàng đều cho ra hết.
Sáng hôm sau vẫn chưa có lệnh gì mới. Gần trưa có một chủ thuyền lạ đến tìm anh và trao cho anh một bức thư sau khi đã lấm lét nhìn quanh: “Của người cô nhờ tôi mang đến”. Anh ngạc nhiên định hỏi cô bây giờ ở đâu thì người ấy nói cần phải đi gấp và cáo từ. Bức thư chỉ vỏn vẹn mấy câu, hình như viết trong lúc vội vàng:
“Con,
Cô được cấp giấy phép vào Sài Gòn buôn bán. Cậu con nói người ta không làm gì mình cả đâu, hãy tuyệt đối tin tưởng vào chính sách. Nhưng cậu con bảo ra đi trước thì lợi cho con hơn. Cô ở lại Sài Gòn cho đến cuối tháng mới về. Cô nói ít con hiểu nhiều. Ông Trung Tá Hiền học tập nửa tháng sắp về. Ngày nào bà Hiền cũng tiếp tế đầy đủ, nào la bồ câu hầm, nào là thịt heo dầm nước mắm, nào là lặp xưởng, lại tiếp tế cả tiền tiêu vặt nữa. Bây giờ hết chiến tranh, ai cũng mừng, sướng hơn xưa nhiều lắm.
Cô.”
Tánh tình cô thật thà, lắm lúc ngây thơ, nghĩ gì nói đó. Cô luôn luôn xem anh như trẻ con, hay nói chuyện ăn uống với anh. Trong thư cô không nói rõ, nhưng anh biết ý cô. Cô muốn anh bỏ đơn vị về Ðà Nẵng với cô trước. Còn cậu thì chắc em biết là anh ruột của mẹ. Trước đây ông làm báo Tiếng Dân với cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế rồi theo ông Kháng ra Bắc. Nghe nói ông không hề vào đảng. Cả đại gia đình mình ai cũng tin tưởng ông, chỉ nghĩ về ông là một người kháng chiến chống Pháp, không ai nghĩ ông là người cộng sản, không ai nghĩ ông tuyên truyền lừa bịp. Ông nói “không hề gì” thì chắc chắn là không hề gì.
Ðối với anh, có hề gì hay không hề gì thì anh cũng không bao giờ bỏ anh em mà đi. Bao nhiêu anh em trong đơn vị từng sống chết có nhau, từng chia bùi xẻ ngọt cho nhau, gặp anh họ còn đứng nghiêm chào, còn nghe lệnh răm rắp, mặt mũi nào anh lại bỏ đi. Anh không phải là người anh hùng, như em đã biết, anh khó có thể trở thành anh hùng được, hay nói đúng hơn binh nghiệp không mấy thích hợp với anh; nhưng bây giờ anh bỏ đi cũng như người cha, người chồng, người anh trong gia đình gặp khi gia đình nghèo khổ tai biến lại bỏ ra đi. Một người có chút lương tâm và liêm sỉ không ai làm vậy. Vả lại, còn có em, anh bỏ em mà đi được sao.
Ngày hôm sau, Giang Ðoàn anh được lệnh án ngữ tại một khúc sông hiểm yếu, cửa ngõ đi vào tỉnh lỵ. Những giang đĩnh có hỏa lực mạnh nằm núp hai bên bờ sông, chĩa những khẩu trọng pháo về mục tiêu mà chắc chắn địch sẽ đi qua. Chung quanh giang đĩnh, trên bờ, có 1 đại đội tùng đĩnh nằm phục kích và bảo vệ. Ðại Tá B. là cấp chỉ huy chịu chơi và rất “lì đòn”. Thuộc cấp của ông rất nể ông về sự “lì đòn” này. Họ không bao giờ dám trái lệnh ông và họ cũng “lì đòn” theo ông. Nghe nói ông chẳng bao giờ khom người, ẩn mình tránh đạn, thế mà đạn lại chê ông. Lính trong trung đoàn đồn ông có bùa, nhưng thật ra ông vừa can đảm vừa tin vào số mạng. Ông từng nói với anh rằng, người tới số thì dù có chui xuống hầm sâu đạn cũng chui theo.
Hôm nay trong bộ bà ba, chẳng áo giáp, chẳng nón sắt, ông đứng trên chiếc giang đĩnh mà anh biệt phái cho ông, thong dong như người vô sự. Nhìn ông, anh chợt liên tưởng đến Tướng Ba Cụt của Hòa Hảo, nghe nói cũng hay mặc bà ba như vậy khi đi hành quân. Hầu như Ðại Tá B. và anh không bao giờ phải dùng máy truyền tin khi có thể nhìn thấy nhau, mà chỉ ra dấu như hai người câm. Chẳng hạn như khi cần anh yểm trợ hỏa lực thì ông làm như bóp cò rồi đưa mấy ngón tay lên trời chỉ... mục tiêu, thí dụ 2 ngón là mục tiêu 2 mà ông và anh đã đánh dấu trên bản đồ. Sáng hôm sau, Ðại Tá B. cho gọi anh dậy thật sớm. Ông đứng trên bờ lấy tay chỉ về mục tiêu phục kích, nắm tay lại đưa lên đưa xuống rất nhanh rồi lấy ngón tay làm như đang bóp cò. Anh biết ông muốn nói địch sắp qua sông, sẵn sàng tác xạ. Anh lấy ống nhòm quan sát suốt 2 tiếng đồng hồ mà chẳng thấy gì cả. Nhưng rồi lúc gần trưa một thủy thủ từ chiếc tiền phong đĩnh ủi bãi bên tả ngạn báo cáo với anh, giọng run run:
“Tụi nó... đang vượt sông. Tụi nó... đang vượt sông. Nghe rõ trả lời”. “5 trên 5. Chuẩn bị tác xạ”. Anh trả lời và lấy cái viễn vọng kính đưa lên mắt trái. Em còn nhớ cái viễn vọng kính mà anh cố vấn Mỹ Sinatra cho anh hồi anh còn chu lai không? Ðó là loại ống nhòm của hải quân xưa, dài gần nửa thước và chỉ dòm được một mắt. Nó cổ lỗ sĩ như vậy nhưng rất tốt, nhìn được rất xa. Em biết không? Qua viễn vọng kính anh thấy các chiến binh cộng sản với quân phục và vũ khí giống như diễn binh, chỉ khác là đang lội bì bõm dưới nước.
Anh nhìn bọn họ rất rõ, thấy từng vết hằn trên áo quần, biết từng loại súng họ đang mang, thậm chí có thể phân biệt được ai già ai trẻ. Anh thấy có vài người còn có vẻ như đùa với nhau. Trong suốt đời quân ngũ, dù đã đụng độ với họ nhiều lần, nhưng chưa bao giờ anh thấy họ di chuyển một cách nghênh ngang và rõ ràng như vậy. Có lẽ họ tưởng tụi này đã tháo chạy hay chết hết rồi chăng? Anh đang ngỡ ngàng thì Ðại Tá B. đã leo lên tàu từ lúc nào. Ông nói như hét: “Bắn chứ còn chuẩn bị gì nữa”. Anh ra lệnh cho viên hạ sĩ đang giữ khẩu MK 19: “Bắn!”
Một tràng đạn xé không khí bay vèo đến mục tiêu. Các trọng pháo khác thi nhau nhả đạn. Không nhìn vào viễn vọng kính nhưng anh thấy từ phía xa từng xác người gục, từng chiếc nón cối văng xuống sông, từng xác người chìm trong sông. Anh nhắm mắt lại, không dám nhìn nữa. Anh nghe tiếng Ðại Tá B. văng vẳng bên tai, lẩn trong tiếng đạn nổ và trong mùi thuốc súng: “Toa sao vậy?” “Không sao, đại tá! Tôi bị nhức đầu vì vết thương hôm trước.” Anh nói và nghe tiếng ông như từ đâu xa lắc, vo vo như tiếng ong kêu: “Toa nghỉ đi. Phụ tá của toa đâu”. Anh nói không sao.
Thú thật, anh đã đụng độ nhiều lần với địch, nhưng thường cả hai bên cùng bắn nhau hay bọn họ bắn trước, chứ chưa bao giờ anh cho bắn trực tiếp vào họ như thế này. Mình rất ít có dịp bắn họ trước, họ lẩn vào trong dân, biết đâu mà mò. Thường họ rình bắn mình trước. Ðang ngồi trong quân xa, thậm chí ngồi trong xe đò, bỗng nhiên nghe một tiếng “đoành” từ đâu trong ruộng lúa và gục xuống. Em ạ, vẫn biết họ bắn mình như thế và mình cũng nên làm như thế, nhưng mà... ghê quá!
Em thương,
Dù sao mấy ngày sau nỗi ưu tư của anh cũng lắng dịu. Ðại Tá B. gọi anh qua máy PRC 25: “Hải Âu, toa biết không? Hôm qua tụi mình đã cứu sống biết bao nhiêu anh em. Nhờ những phát đạn của toa mà bốn đơn vị của mình không bị tấn công thình lình”. Anh nói: “Nghe rõ Mặt Trời”. Ông nói: “Mình làm một vòng quanh tỉnh lỵ, xem tình hình ra sao.” Chưa tới 10 phút sau đã thấy ông tự lái xe đến, sau lưng có anh tài xế cầm khẩu M18 ngồi. Anh lên xe theo ông ra phố. Dân chúng nhớn nhác sợ sệt như đang chuẩn bị đối phó với một tai ương không thể nào tránh được sắp xảy ra: một cơn bão, một trận động đất, một bầy khủng long...
Về phía Tây có một số người tụ tập hình như chuẩn bị lên thuyền. Ba người đi đến một cái quán cóc bỏ hoang ngồi nhìn ra biển. Hôm nay không có sóng, mặt biển phẳng lì như một chiếc gương vàng. Mặt trời đỏ rực đang chìm một nửa. Vô số những chấm li ti màu trắng ẩn hiện trên đường chân trời. Ðại Tá B. lấy ống nhòm đưa lên mắt. Ông buộc miệng kêu lên: “Hải âu. Ðẹp thật”. Anh nói: “Mặt trời cũng đẹp. Mặt trời chiều trên biển đẹp hơn. Nó không rực rỡ như buổi sáng nhưng vẫn đẹp”.
Thôi, anh xin tạm dừng viết vì thư cũng đã khá dài. Nếu anh biết được chắc chắn thư đến tay em, anh còn viết nhiều hơn nữa.
Anh thương của em,
Nguyễn Văn Tân
*****
Thư hậu phương
Nguyễn Thị A Tiên
Ngày... Tháng Năm, 1975
Anh thương nhớ,
Em đã nhận được thư anh. Sáng hôm nay, em Hùng thức dậy ra mở cửa thì thấy một phong bì màu vàng lớn bên ngoài có bọc ny-lông nằm trong kẹt cửa. Ban đầu tưởng giấy tờ gì, sau mở ra thấy thư anh, nó reo lên:
- Thư anh Tân.
Cả nhà nhao lên, ai cũng đòi xem thư, chỉ có ba đưa mắt nhìn mọi người như ngầm bảo: “Biết nó bình an là được rồi. Thư riêng mà, đọc làm gì”.
Em đem thư lên sân thượng đọc một mình, đọc đi đọc lại đến thuộc lòng. Em không nói chắc anh cũng biết là em không thể nào cầm nỗi những giọt nước mắt, hết đợt này đến đợt khác tuông ra. Em không muốn khóc mà cổ họng cứ nấc lên. Viết đến đây em lại khóc. Em càng khóc nhiều hơn khi nghĩ rằng, không biết viết thư xong thì gởi cho anh bằng cách nào đây. Thôi thì cứ viết. Biết đâu có phép lạ nào đó khiến anh nhận được. Ðiều mong mỏi nhất của em hôm nay là cầu xin Trời Phật phù hộ cho anh được bình an và chúng ta sum họp với nhau.
Em có biết tin giang đoàn anh được điều động lên tỉnh lỵ. Em còn biết cả việc anh hành quân với Ðại Tá B nữa. Anh biết tại sao không? Cô nói. Cô nói có cho người xuống liên lạc với anh. Chắc chắn là người mà anh nói trong thư. Em nói với cô nhờ hay thuê người đó hướng dẫn em xuống gặp anh, nhưng ba không cho. Ba nói trông anh ta không được đứng đắn. Em cười thầm vì thấy ba có vẻ lẩm cẩm, nhưng không dám cãi lời. Sau đó em nhất quyết xuống gặp anh mặc cho ba ngăn cản, ba nói chính anh cũng không muốn em đi tìm anh như vậy.
Em nghĩ mọi sự sắp thay đổi hết rồi. Lời dặn dò của anh không còn thích hợp trong tình thế mới nữa. Cô đã về Ðà Nẵng. Cô mua bột ngọt ra Bắc bán. Ở ngoài bắc họ rất thích bột ngọt mà họ gọi là mì chính. Họ nói mì chính bổ óc(?)và có thể dùng để trị vết thương(?).Trước khi cô về Ðà Nẵng ba ngày, em xuống tìm anh thì mọi ngã đường đến đó đều bị phong toả hay tắt nghẽn. Em trở về nhà tấm tức khóc. Em nghĩ không phải lúc nào cũng nên nghe lời anh. Phải chi em không nghe lời anh mà cứ đi theo anh, sống chết có nhau. Ngay sau đó Hạ Sĩ Thiện và vài thủy thủ khác trong hậu cứ đến gặp em. Em ngạc nhiên hỏi:
- Chưa đi sao?
- Chúng tôi đợi chỉ huy trưởng.
Cả nhà khuyên họ nên tìm đường đi gấp hay tránh đâu đó. Họ lủi thủi rời khỏi nhà. Cho đến bây giờ em vẫn không hiểu họ đợi anh để làm gì, đợi cùng nhau trốn chạy, đợi cùng nhau đầu hàng hay đợi cùng nhau chống lại. Em chỉ biết một điều là cho đến phút cuối cùng họ vẫn đặt tin tưởng nơi anh. Sáng 30 Tháng Tư nhà nào ở khu phố mình cũng đóng cửa, không ai dám ra ngoài. Cả gia đình đứng trong nhà lén nhìn ra, thấy có mấy người mang băng đỏ đi ngang qua, có người trông rất quen, có cả một ông cảnh sát quốc gia, bạn của ba nữa. Ba nói:
- Việt cộng cũng là mình, chớ có ai khác đâu.
Sau này em được biết ông cảnh sát sợ quá nên phải đeo băng đỏ ngụy trang.
Ðến trưa một số nhà mở cửa. Có ba người thanh niên mang súng AK, trên đầu súng có cột một miếng vải đỏ, vào nhà mình; một người trắng trẻo giống như sinh viên, một người trông có vẻ nhà quê và một người rất quen mà sau khi nhìn kỹ em mới biết là anh Ba Nhỏ ở cùng xóm, làm nghề sửa xe gắn máy. Anh thanh niên trắng trẻo vui vẻ chào cả nhà, nói đủ chuyện về chính trị, nhất là chính sách 12 điểm của Mặt Trận Giải Phóng; nhưng hai anh kia thì chỉ ngồi im lặng, thỉnh thoảng họ thì thầm với nhau gì đó và liếc nhìn em. Một lát sau anh Ba Nhỏ hỏi em:
- Thằng bồ chị đâu rồi?
Em định im lặng nhưng rồi bực mình hỏi:
- “Thằng bồ” là thằng nào?
Anh trông có vẻ nhà quê nói, giọng Bắc:
- Khỏi sợ, không ai bắt ép chị được nữa đâu.
- Ðã có chính sách mà tôi sợ gì.
- Không phải tôi nói vậy. Tôi nói trước đây bọn sĩ quan ỷ có quân hàm trên vai, hay bắt ép người ta làm vợ, bây giờ không phải sợ nữa.
Em buồn cười đến nỗi phải lấy cớ đi pha nước uống để vào bên trong cười cho đã. Em hoảng hồn thấy thằng Hùng đang ngồi trong xó bếp, tay cầm con dao bầu, hằm hằm nhìn ra ngoài:
- Mẹ tụi bây! Cho một quả CBU xuống đầu tụi bây, chết hết bây giờ!
Sáng hôm sau, em thức dậy thật sớm bỏ vài món cần thiết trong cái túi nhỏ rồi nói với ba mẹ là em đi tìm anh. Ba gật đầu. Mẹ đòi đi theo nhưng em không cho.
Chiếc xe đò ọc ạch rời thành phố. Trên quốc lộ có nhiều người chết nằm ngay bên vệ đường. Có thể đây là những người vừa tự kết liễu cuộc đời mình để không lọt vào tay kẻ chiến thắng, hay cũng có thể là những kẻ chiến thắng đi lẻ tẻ bị thanh toán. Em thấy có một người rất trẻ, đội nón tai bèo, vai mang súng AK đang ngồi gục chết trước tay lái xe một xe jeep. Mấy người trên xe đò nói đó là du kích địa phương, thấy xe jeep bỏ bên vệ đường nên lái thử và bị tai nạn. Em nghĩ không phải vậy vì thấy xe không hư hỏng gì cả. Ai cũng chỉ đoán, chỉ nói như vậy rồi bỏ qua vì ai cũng đang lo lắng, quan tâm đến chuyện có liên quan đến mình nhiều hơn.
Vào khoảng 5 giờ chiều xe cách trung tâm tỉnh lỵ chừng 3 cây số. Ðến chỗ này tất cả phải xuống xe đi bộ vì cái cầu phía trước bị sập. Chỉ có một mình em vào tỉnh lỵ. Em đi qua vài trạm gác của bộ đội, nghe họ nói toàn giọng Bắc. Có vài người tò mò nhìn em, có người mắt hau háu làm em sợ quá. Em thấy mình dại dột hấp tấp quá, tại sao không cho mẹ đi theo. Vào đến tỉnh lỵ em mới hết sợ, nhưng em băn khoăn không biết tìm anh ở đâu. Trước đây chỉ cần gặp Hải Quân hỏi Giang Ðoàn anh, đôi khi hỏi tên anh, ai cũng biết. Bây giờ thì mù mịt. Em chợt nhớ chỉ có hai nơi là anh còn lưu dấu vết lại. Ðó là sông và biển. Em vội leo lên một chiếc xe lôi và bảo chở đến bờ sông.
- Bờ sông nào? Có nhiều bờ sông.
Chú lái xe lôi nói.
- Bờ sông nào cũng được.
Em trả lời trước cặp mắt ngạc nhiên của chú lái xe lôi. Chú định nói gì đó, nhưng rồi ái ngại nhìn em, trong vẻ ái ngại có chút nghi ngờ. Em đưa cho chú 500 đồng, bảo cứ chở đến tất cả các bờ sông, rồi đi ra bờ biển. Chú trả lui tiền cho em:
- Tôi chỉ sợ cô dại dột... Chở xong tôi lấy tiền cũng được.
- Ồ, chú tưởng tôi ra sông trầm mình hả?
Em im lặng một lát rồi nói:
- ... Cũng có thể nhưng... chưa đâu.
- Thôi đừng... Hôm qua có mấy người như vậy. Mấy người... chế độ cũ.
Ðến bờ sông em thấy có nhiều chỗ cây cối bị cháy sém và gãy đổ. Không biết đây có phải là chỗ bị giang đĩnh bắn như anh nói trong thư không. Chú lái xe lôi chở em đi dọc theo bờ sông. Em giật mình thấy giữa sông có một chiếc tàu chìm, cái đầu nhô lên khỏi mặt nước, trên đầu có khẩu súng lớn chĩa lên trời. Em xuống xe hỏi chú lái xe lôi, hỏi mà tim cứ đập thình thịch:
- Chắc có nhiều người chết.
- Không có ai chết cả. Gặp lúc đang đánh nhau, ai cũng ở trên boong.
- Ủa, ở trên boong sao không...
- Khi tàu bị mìn, ở trên boang không nguy hiểm bằng ở bên trong tàu.
- Sao chú rành vậy?
- Trước đây tôi là hải quân mà. Mà cô đi tìm ai vậy?
- ...
- Hình như giang đoàn này không có ai chết. Có một chiếc thoát ra biển.
- Nghe nói tàu sông không đi biển được.
- Sóng êm có thể ra biển. Nhưng chiếc tàu thoát ra biển là loại vừa đi sông vừa đi biển. Giang đoàn này có một chiếc như vậy, gọi là LCM-8.
Em nhớ có lần anh bỏ chiếc xe jeep lên một chiếc tàu há miệng loại nhỏ và chở đi đâu đó. Có lẽ đó là LCM 8. Em bảo chú lái xe lôi chở ra biển.
- Bây giờ có ai ở biển đâu mà tìm. Nếu thoát ra biển thì họ đi mất tiêu rồi.
Chú lái xe lôi nói.
- Chú cứ chở tôi ra biển đi.
Ðến biển vào khoảng 6 giờ chiều. Trời lất phất mưa. Mặt trời đang chìm dần xuống chân trời. Em không có ống nhòm nhưng vẫn thấy vô số những con hải âu đang bay lượn, có lẽ chúng tiến vào bờ gần hơn. Những con hải âu thật là đẹp. Mặt trời chiều cũng thật là đẹp. Em đến ngồi trong một cái quán vắng bên đường. Quán chỉ còn trơ mấy chiếc ghế, mấy cái cột và một tấm ny-lông che rách nát. Không hiểu sao lúc đó em vẫn có cảm tưởng như anh đã từng ngồi ở đó. Em có đọc một truyện khoa học giả tưởng.
Truyện kể một cặp tình nhân thường ra công viên ngồi tình tự. Người thanh niên vì sao đó chết em không nhớ. Cô gái nhớ người yêu, hàng ngày cứ đến công viên mà ngồi. Rồi có một tác động có liên quan đến không gian bốn chiều hay cái gì đó em quên mất, khiến tại nơi đó thời gian chạy ngược, làm không gian và cảnh vật quanh cô gái thay đổi. Kim đồng hồ trên tay cô xoay tít từ số lớn đến số nhỏ, lá bay từ dưới đất lên trên cành, những cây trụi lá của Mùa Ðông từ từ có lá vàng của Mùa Thu. Người thanh niên bỗng hiện ra bên cạnh người tình. Em cứ ngồi như vậy mà ước gì thời gian chạy ngược để anh từ đâu đó trong không gian đến với em. Nhưng rồi em cảm thấy tuyệt vọng, buồn khổ quá. Em lại khóc. Gió biển thổi tan những hạt mưa đọng lại trên tóc em, trên người em, nhưng vẫn không thổi tan được những dòng nước mắt. Lúc đó em chỉ mong em biến thành đá như người vọng phu để không còn biết gì nữa.
- Cô muốn về đâu để tôi chở về?
Tiếng chú lái xe lôi đưa em về thực tại. Em bảo chú ấy đưa em ra bến xe trả tiền rồi bước lên xe đò. Cũng may, mấy ngày đó xe đò chạy suốt ngày suốt đêm vì nhu cầu di chuyển của dân chúng nên trong đêm đó em về đến nhà. Hai ngày sau em nhận được thư anh. Ước gì sáng mai em ra mở cửa lại nhận được thư anh. Ước gì sáng mốt em ra mở cửa, thấy anh. Ước gì ngay bây giờ có tiếng gõ cửa và anh xuất hiện. Em nghĩ trên đời này không có hạnh phúc nào bằng.
Em thương của anh,
Nguyễn Thị A Tiên
sweetvietguy81
10-19-2007, 10:47 PM
Lâu rồi ko vào 4rum, hôm nay vào thấy giao diện khác hẳn :) nghe nói a e định họp mặt vào ngày 21/10 hả? Nếu có đi thăm nghĩa trang quân đội cho mình đăng ký 1 vé với. Ước nguyện bấy lâu nay được thắp nén hương cho những người đã hy sinh cho nền Cộng Hòa quá ngắn ngủi, những người mà mình hằng ngưỡng mộ và tiếc thương cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được. . . :17:
linhtranmienxa
10-19-2007, 11:09 PM
muốn đi thì bữa nào phone cho tui,tui dẫn đi,tui biết chỗ nhưng không có ai đi cùng hết
linhtranmienxa
10-19-2007, 11:11 PM
những bài viết trên của ngay09 hay nhưng dài quá,bạn nên post từ từ,bạn post như vậy thứ nhất là sẽ làm anh em mỏi mắt,trong đó có tui,thứ 2 là dài quá sẽ làm cho người đọc không nắm rõ nội dung của bài viết,vài ý kiến vậy thôi,chứ không có ác ý,hay chê bai gì cả
Cho quá khứ ngủ luôn đi, lôi dậy làm gì
linhtranmienxa
11-15-2007, 08:33 PM
có quá khứ mới có hiện tại,có hiện tại mới có tương lai,chỉ vì những người luôn muốn chối bỏ quá khứ nên tương lai mới mịt mờ như thế này đây
Minh khue
12-27-2007, 11:23 AM
mình cũng muốn đi thăm nghĩa trang quân đội Biên Hoà lắm nhưng chưa có điều kiện , vì mình ở xa quá . thăm những người Chú , Bác đã anh dũng hy sinh .
linhtranmienxa
01-11-2008, 03:55 PM
muốn đi không?
GotChinhNhan
02-01-2008, 04:50 PM
dài we' đọc mún rót măt ra lun... nhung wa' cảm động hix... hix...
ngay09
03-30-2008, 01:57 PM
Chuyện trò cùng đồng đội: Người lính vô danh
Tôi nhớ lúc đó vào khoảng năm 1972, lúc đó là vào Mùa Hè 1972, các mặt trận Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, KonTum dậy lửa, chiến thắng cũng có nhưng chết chóc cũng nhiều. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị lúc đó có yêu cầu Cục Tâm Lý Chiến tung ra một loạt hình ảnh các vị sĩ quan cao cấp, vẽ trên những tấm biển lớn dựng trên đường phố Saigon như cố Chuẩn Tướng Thiết Giáp Trương Hữu Ðức (rớt trực thăng), cố Ðại Tá Nhảy Dù Nguyễn Ðình Bảo (căn cứ Charlie) và một vài vị cấp tá khác mà qua thời gian, tôi không nhớ hết tên, để ca ngợi sự hy sinh anh hùng của các vị này.
Lúc bấy giờ đang làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, trước sự việc này, tôi đã viết một bài ngắn trên tuần báo Diều Hâu do ông Nguyễn Ðạt Thịnh làm chủ nhiệm, nêu ra vấn đề là vì sao, trong cuộc chiến, chúng ta có bao nhiêu anh hùng cấp nhỏ, binh sĩ hay hạ sĩ quan mà không thấy nêu tên mà chỉ thấy toàn ca tụng những sĩ quan cao cấp như trên. Kết quả bài báo là ông Nguyễn Ðạt Thịnh cấp chỉ huy trực tiếp của tôi được ông Tổng Cục Trưởng CTCT lúc bây giờ gọi lên than phiền là một sĩ quan thuộc ngành lại phê bình công việc của Tổng Cục và có lẽ ông cũng không đồng ý cho lắm với quan điểm của một sĩ quan cấp nhỏ như tôi. Tôi không bị phạt hay bị đổi đi đơn vị khác là nhờ ông Nguyễn Ðạt Thịnh đã bênh vực ý kiến của tôi một cách thẳng thắn và công bằng.
Cái “tôi” quả là trơ trẽn, nhưng tôi muốn đưa câu chuyện này trở lại là để thấy chúng ta thường có thói quen ca tụng những “anh hùng cấp lớn” mà không để ý đến những gương hy sinh anh dũng của những cấp nhỏ, thậm chí là những anh hùng vô danh không hề có tên tuổi. Những tướng lãnh “công thành” trên “vạn cốt khô” của những người lính thật thà, chết đi vì tổ quốc, tên tuổi và thân xác tan biến vào sự quên lãng vô tình của con người và thời gian. Chúng ta không hề thiếu những người binh sĩ sống trong lô cốt ở tuyến đầu giáp với đất giặc cùng với vợ con của họ, bắn đến băng đạn cuối cùng, sử dụng đến quả lựu đạn cuối cùng và cùng chết với cả gia đình trong cái “chốt” nhỏ bé này. Nhiều khi chúng ta có cái cảm tưởng rằng cuộc chiến này chúng ta chỉ có Tướng Lãnh mà không có hàng binh sĩ hay sĩ quan cấp nhỏ.
Trong cuộc “lui binh” trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về duyên hải, hàng nghìn quân nhân và gia đình phải chạy bộ hoặc chất chồng trên những chuyến xe hàng, xe vận tải hay xe gắn máy, họ không có trực thăng như những chỉ huy cao cấp nhưng cũng nơi này, trong suốt cuộc hành trình đẫm máu, như lời cựu Ðại Tá Phạm Văn Ðồng, Tư lệnh Lữ đoàn II Kỵ Binh, không hề nghe một tiếng gọi nào trong máy truyền tin để hướng dẫn, yểm trợ cho đoàn quân “tái bố trí” này. Cấp chỉ huy cao cấp đã tắt máy truyền tin và đang ở một nơi nào đó an toàn ở vùng duyên hải.
Hình ảnh người lính địa phương quân vẫn đứng lặng lẽ gác cầu Bạch Hổ Huế trong những giờ phút hấp hối của Quân Khu I, khi tất cả các lực lượng khác đang rời bỏ phòng tuyến để rút về phía Nam là hình ảnh của một người lính chỉ biết tuân phục, không bao giờ bỏ trách nhiệm. Họ tuân thủ luật lệ của đất nước họ để được động viên vào quân ngũ hay tình nguyện theo sở nguyện của mình, tất cả đều nhắm mục đích phục vụ quốc gia và dân tộc. Phần lớn họ chết trên chiến trường giữa tuổi thanh xuân, có người chưa hề biết qua lạc thú của cuộc đời. Có người trấn đóng ở nơi rừng núi xa xôi, ở các tiền đồn heo hút, cắt bỏ mọi luyến ái gia đình, có khi dở dang cả một cuộc tình thời niên thiếu.
Chúng ta hãy nhìn lại đời sống của một người lính địa phương quân, nghĩa quân trong những xóm làng xa xôi, vợ con cùng ở chung trong cái lô cốt hay dưới nhưng mái tôn nóng bức, chật hẹp, thiếu thốn mọi bề. Ðồng lương lính không qua nỗi mười ngày đầu tháng, chắc chắn là cơm bữa đói bữa no, nhưng các người lính này không bao giờ than vãn hay xót xa đến số phận của mình. Những người lính chiến đấu dưới lá cờ quốc gia, mong sẽ được phục vụ tổ quốc, sẵn sàng lao về phía trước, mặc dầu họ biết trong vài mươi giây trước mặt, họ có thể bị kết liễu cuộc sống bằng một viên đạn hay một mảnh trái phá.
Ðất nước trông cậy vào đám đông, đa số là những người lính vô danh, thầm lặng, thường rơi vào sự quên lãng. Tên tuổi họ không bao giờ được nêu cao và thậm chí thân xác bị vùi dập dưới những tấm bia mộ ghi là “vô danh”. Ðó là những người cần phải được chúng ta ghi nhớ và đề cao.
ngay09
03-30-2008, 01:58 PM
Tường thuật của ông John Mccain về việc tra tấn của Việt Cộng
(http://www.news.com.au/heraldsun/story/0,21985,23301752-663,00.html)
(Tháng 3, 2008)
“Tôi chuẩn bị cho chuyến oanh tạc miền Bắc Việt Nam lần thứ 23 của tôi từ sáng sớm - đó là trận đánh đầu tiên vào thủ đô của địch, Hà Nội” (Ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ John McCain viết trong tường thuật).
Mục tiêu của chúng tôi là nhà máy nhiệt điện ở gần một cái hồ nhỏ giữa thành phố. Trên độ cao khoảng 9000 feet, khi chúng tôi chuyển hướng vào phía trong thành phố để tới mục tiêu thì đèn báo động lóe sáng và tín hiệu báo có ra đa địch bắt đầu vang lên lớn đến nỗi tôi phải tắt nó đi.
Tôi đã nhìn thấy khói và bụi bốc lên từ mặt đất như những đám mây khổng lồ khi hỏa tiễn đất đối không bắn vào chúng tôi. Chúng tôi càng tới gần mục tiêu, hệ thống phòng không càng ác liệt hơn. Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh một cái hồ nhỏ và tôi nhào ngay xuống đó vừa lúc tín hiệu báo động ngưng kêu để báo cho tôi biết là hỏa tiễn địch đang lao vào tôi.
Tôi biết là phải cho máy bay lăn vòng ra phía ngoài và dùng thao tác tránh né - bay “luồn lách” theo cách nói của các phi công - nhưng chính đó là lúc tôi sắp sửa thả bom, và nếu tôi bay luồn lách thì tôi sẽ không bao giờ có thời gian, và chắc chắn là cũng không có cả can đảm để bay trở lại mục tiêu, một khi tôi thoát được quả hỏa tiễn đó. Như vậy là từ độ cao 1000 mét, tôi thả quả bom, rồi tôi kéo cần lái trở lại để bắt đầu cho máy bay vọt thẳng lên một độ cao an toàn hơn.
Trong giây phút chớp nhoáng, trước khi máy bay bắt đầu phản ứng thì quả hỏa tiễn đã thổi tung mất cánh máy bay bên phải. Tôi biết là máy bay của mình đã bị hỏa tiễn bắn trúng. Chiếc máy bay A-4 của tôi đang bay với tốc độ khoảng 900 cây số/giờ, đã lao nhanh xuống mặt đất theo vòng xoáy trôn ốc. Khi bị trúng hỏa tiễn, tôi đã phản ứng một cách máy móc là với lấy và kéo cái cần bật của ghế ngồi. Tôi bị đập vào máy bay làm gãy cánh tay trái, ba chỗ của cánh tay phải, đầu gối phải và ngất đi. Những người chứng kiến nói rằng cái dù của tôi chỉ vừa mở là tôi rớt ngay xuống chỗ nước nông của hồ Trúc Bạch.
Ðồ trang bị trên người nặng khoảng 25 ki-lô, tôi chìm xuống đáy hồ, và chạm đất bằng cái chân còn lành của tôi. Tôi không hề cảm thấy đau khi chạm đáy hồ, và tôi không hiểu tại sao tôi không thể dùng cánh tay để kéo cái chốt áo cứu đắm của tôi. Tôi lại bị chìm xuống đáy hồ một lần nữa. Khi chạm đáy hồ lần thứ hai, tôi đã cố gắng để bơm phồng cái áo cứu đắm của tôi bằng cách dùng răng để kéo cái chốt của nó ra. Sau đó tôi lại bị bất tỉnh một lần nữa. Lần thứ hai bị chìm thì tôi được kéo lên bờ bằng những cái sào tre. Một đám đông khoảng vài trăm người Việt Nam bu quanh tôi, lột trần tôi ra, khạc nhổ vào mặt tôi, đá và đánh tôi.
Sau khi quần áo và đồ trang bị của tôi bị lột ra hết, tôi thấy đau nhói ở đầu gối bên phải. Tôi nhìn xuống thì thấy cái bàn chân phải của tôi nằm ngay cạnh đầu gối bên trái của tôi ở một góc 90 độ. Tôi bật kêu lên: “Trời ơi! Cái chân của tôi!”. Một người nào đó đã dùng báng súng phang mạnh vào tôi làm xương vai của tôi bị gẫy ra. Một người khác thì dùng lưỡi lê đâm vào mắt cá chân và háng của tôi. Một người đàn bà, có thể là nữ y tá, đã cố gắng thuyết phục đám đông không nên hành hạ tôi thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng các thanh nẹp tre để kẹp chân và cánh tay phải của tôi. Tôi cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm khi chiếc xe tải của quân đội tới chỗ tôi bị bắt.
Mấy người lính đặt tôi vào cái cáng, mang lên xe tải và lái đi vài khu phố tới một nhà tù được xây cất theo kiểu Pháp, đó là Hỏa Lò mà tù binh chúng tôi gọi là khách sạn Hilton Hà Nội. Khi cánh cửa sắt đồ sộ được đóng lại vang lên tiếng loảng xoảng phía sau tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy khiếp sợ ghê gớm như vậy. Hôm đó là ngày 26 tháng 10, năm 1967. Lúc đó tôi 31 tuổi, và là thiếu tá Hải Quân Hoa Kỳ khi máy bay của tôi bị bắn rớt. Suốt hai thế kỷ, thanh niên trong dòng họ tôi được dạy dỗ để ra chiến trường với tư cách là sỹ quan trong quân lực Hoa Kỳ.
Tôi là con và cháu của các sỹ quan Hải Quân, và cha của tôi tin tưởng rằng mỗi khi gặp nghịch cảnh, tôi phải noi theo những tấm gương mà cha tôi đã nêu lên. Mấy người lính dẫn tôi vào trong một xà lim trống, đặt cái cáng tôi đang nằm trong đó xuống sàn và phủ cái chăn lên mình tôi. Trong vài ngày sau, tôi sống trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Những người hỏi cung gọi tôi là tội phạm chiến tranh, và khai thác tin tức quân sự. Họ đánh đập tôi liên hồi, và tôi bắt đầu cảm thấy đau khủng khiếp ở những chỗ chân tay bị gãy. Tôi bất tỉnh sau vài cú đánh.
Tôi nghĩ, nếu mình có thể chịu đựng được, họ sẽ mủi lòng và đưa tôi đi bệnh viện. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi nhận biết tình trạng của tôi đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi bị sốt nóng và thời gian bất tỉnh trở nên lâu hơn. Tôi nằm trong cái vũng của những thứ do tôi nôn mửa cùng với những thứ do cơ thể tôi bài tiết ra, và đầu gối tôi đã bắt đầu sưng tấy lên khủng khiếp và bị biến màu đi. Nhân viên y tế gọi Zorba tới bắt mạch cho tôi. Tôi hỏi rằng: “Các ông sắp đưa tôi đi bệnh viện có phải không? Ông ta trả lời: “Không, quá trễ rồi”. Nỗi kinh hoàng về cái chết ập tới bất thần. Người Việt Nam luôn luôn từ chối điều trị cho những người bị thương trầm trọng.
Thật là hạnh phúc, tôi lại rơi vào cơn mê. Một lúc sau tôi tỉnh lại khi viên trưởng trại, một tên chó đẻ hèn hạ tên là Bug (Bắc) xô vào xà lim của tôi với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng rằng: “Cha của anh là một đô đốc có uy tín lớn, bây giờ chúng tôi đưa anh đi bệnh viện”. “Xin Trời ban phước cho cha tôi”. Thật không thể hiểu được nếu không nhìn thấy họ đã sung sướng biết bao khi bắt được con trai của một đô đốc và tôi hiểu rằng chính cái địa vị của cha tôi đã trực tiếp liên can đến sự sống còn của tôi. Tôi được chuyển đến một bệnh viện ở trung tâm thành phố Hà Nội.
Tới hai ngày sau đó, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng bẩn thỉu, muỗi “nhiều như trấu” và chuột nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn và nước đọng thành vũng trong sàn nhà. Không có ai lưu tâm đến việc giúp tôi rửa những cáu ghét nhầy nhụa trên thân thể tôi. Tôi đã bắt đầu phục hồi được trí não, và những người thẩm vấn đã tới bệnh viện để tiếp tục làm việc. Sự đánh đập cũng giới hạn trong thời gian ngắn bởi vì tôi đã thốt ra những tiếng kêu thét rợn tóc gáy khi tôi bị đánh và những người thẩm vấn tôi tỏ ra lo ngại rằng nhân viên của bệnh viện có thể phản đối họ. Cuối cùng thì tôi cho họ biết tên chiến hạm của tôi và số hiệu của hạm đội. Khi bị hỏi về những mục tiêu dự trù trong tương lai, tôi kể tên những thành phố đã từng bị oanh tạc.
Ðầu tháng 12, họ giải phẫu chân phải của tôi, cắt hết các dây chằng ở một bên đầu gối, chỗ đó không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn được. Tới cuối tháng 12, họ quyết định cho tôi xuất viện. Tôi bị sốt cao độ, tiêu chảy và mất khoảng 25 ký lô, chỉ còn nặng 45 ký lô thôi. Ngực tôi vẫn còn bó bột và chân đau nhừ tử. Tôi bị bịt mắt, đặt trong thùng xe tải và đưa tới một nhà tù gọi là Ðồn Ðiền (The Plantation). Thật là một niềm khuây khỏa lớn lao cho tôi, vì được giam chung xà lim với 2 người tù khác là hai thiếu tá không quân “Bud” Day và Norris Overly.
Có một điều không thể nghi ngờ được là chính Bud và Norris đã cứu mạng sống của tôi. Sau đó hai người này đã nói ra cái ấn tượng đầu tiên của họ khi gặp tôi là thấy tôi sinh lực kiệt quệ, mắt lồi ra, đờ đẫn vì sốt, đó là một người đứng trước ngưỡng cửa của tử thần. Hai bạn đó nghĩ rằng người Việt Nam đợi cho tôi chết và giao tôi cho hai bạn đó săn sóc tôi để họ khỏi bị lên án nếu tôi chết. Bud đã bị thương nặng khi nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy bay. Sau khi bị bắt, anh ấy đã trốn thoát gần tới một phi trường dã chiến của Mỹ thì bị bắt lại. Bọn người bắt anh ấy đã dùng vòng thòng lọng bằng dây thừng để cuốn quanh vai của anh ấy rồi xiết thật chặt cho tới khi hai bả vai của anh ấy hầu như sắp chạm vào nhau, rồi trói hai cánh tay của anh ấy lại và treo anh lên xà nhà của nơi tra tấn làm hai vai của anh ấy bị xé rời nhau ra.
Tình trạng như thế kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ. Bud không bao giờ chấp nhận sự khai thác của người Việt Nam về những tin tức quân sự. Thà Bud để cho bọn đó đập gẫy cánh tay phải của anh lần thứ hai, đó là cánh tay vốn dĩ đã bị gẫy, và chúng còn dọa đập gẫy nốt cánh tay kia, chứ anh không hề cho chúng một mẩu tin nào. Vì những thương tích của Bud nên anh không thể giúp gì trong việc săn sóc thân thể của tôi. Norris là người có bản chất hòa nhã, nhẫn nhục, đã làm vệ sinh thân thể cho tôi, đút cho tôi ăn và giúp tôi đổ bô phân và nước tiểu.
Nhờ có hai người bạn này, tôi đã bắt đầu hồi phục. Tôi đã sớm tự đứng dậy và có thể dùng đôi nạng để đi lại trong cái xà lim đó. Tháng 4 năm 1968, Bud bị chuyển đi nhà tù khác. Norris thì được trả tự do dưới cái gọi là “ân xá” và tôi còn bị giam riêng trong hai năm nữa. Mặc dầu tôi còn phải dùng đôi nạng để đi lại khập khiễng trong xà lim của tôi, hình dạng tôi vẫn còn thê thảm lắm, tôi không thể nhặt lên hoặc cầm bất cứ một cái gì. Bệnh kiết lỵ đã làm tôi khổ sở. Thức ăn và nước uống bị thải ra ngay tức khắc, và dạ dày bị đau quặn đã làm tôi rất khó ngủ. Cô độc là một vấn đề hãi hùng, nó đã đè bẹp tinh thần và làm suy yếu sức kháng cự của con người một cách có hiệu quả hơn bất cứ một hình thức hành hạ nào khác. Không có ai để tham vấn, con người bắt đầu nghi ngờ sự phán xét và can đảm của mình. Vài tuần lễ đầu tiên là gay go nhất.
Tuyệt vọng ập đến ngay tức khắc, và đó là một kẻ thù ghê gớm, tôi đã phải dựng lại trong trí nhớ những cuốn sách, những bộ phim mà tôi đã thưởng thức. Tôi đã thử viết sách và kịch bản về chính mình, trình diễn những chuỗi sự kiện trong cô đơn của xà lim. Tôi phải thận trọng ngăn ngừa trí tưởng tượng đã trở nên mãnh liệt đến nỗi thường xuyên đưa đẩy tôi tới một nơi trong tâm trí mà từ đó tôi không thể trở lại được nữa. Xà lim của tôi đối diện với phòng thẩm vấn ở bên kia sân. Giường nằm là một tấm ván, và một cái bóng đèn treo lủng lẳng trên sợi dây điện từ trần nhà thòng xuống. Bóng đèn thắp sáng suốt ngày đêm.
Cộng thêm với những khổ sở của chúng tôi là cái mái nhà lợp tôn đã làm tăng cái nóng của mùa hè lên khoảng 5 độ hoặc hơn thế. Giữa tháng 6 năm 1968, viên trưởng trại gọi tôi tới gặp hắn, có bày ra bánh bích quy, thuốc lá và hỏi tôi có muốn về với gia đình không. Tôi muốn nói là có: Tôi bị mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ hãi. Nhưng cái quy tắc hành xử đã rõ ràng: “Những tù nhân Mỹ không thể chấp nhận tha có điều kiện, ân xá hoặc đặc ân”. Tôi nói là để tôi suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi hiểu việc phóng thích tôi sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cha tôi và các bạn đồng tù, và sau đó tôi được biết cái mà người Việt Nam hy vọng sẽ dành được. Ngày 4 tháng 7 cha tôi được thăng lên chức Tư Lệnh Thái Bình Dương.
Phía Việt Nam định chào mừng cha tôi bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí”. Hai tháng trôi qua, không có gì xảy ra. Và những đợt hành hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó 4 ngày. Từng đợt, bọn lính gác trở lại đánh đập tôi. Một tên giữ tôi cho những tên khác đánh đập túi bụi. Tôi bị gãy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân phải của tôi lại trở nên vô dụng, do đó tôi không thể đứng được. Tới đêm thứ ba thì tôi nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, tôi không thể chuyển động được.
Ba tên lính gác đỡ cho tôi đứng dậy rồi chúng đánh tôi cực kỳ khủng khiếp. Chúng để tôi nằm trên sàn nhà rên rỉ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gãy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát. Sau vài lần không thành công, tôi tìm cách để đứng dậy. Lật úp cái bô đựng phân và nước tiểu, tôi đứng lên đó, níu vào tường bằng cánh tay còn lành, tôi luồn cái áo của tôi qua cái cửa chớp và buộc thành vòng tròn. Khi tôi đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên lính gác nhìn thấy cái áo của tôi luồn qua cửa sồ, kéo tôi xuống và đánh tôi. Sau đó tôi lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ tư, tơi đành chịu thua.
Tôi đã ký vào bản tự thú rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và tôi đã thực hiện những công việc của một phi công”. Mấy tên lính gác bắt tôi cho thâu lời thú tội này vào trong băng ghi âm. Tôi từ chối, và bị đánh đập cho tới khi tôi đồng ý. Ðó là hai tuần lễ kinh khủng nhất trong đời tôi. Tôi rùng mình, như thể sự nhục nhã của tôi là một cơn sốt, và sẽ không còn ai nhìn tới tôi nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Việt Nam dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới chúng tôi, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để chúng tôi bị chết. Chúng tôi tin chắc rằng một số tù binh đã bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man.
Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiễm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng ngón tay cái bị xé rách toạc ra, và anh ấy bị châm bỏng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Việt Nam đánh giá chúng tôi như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì họ không có ý định giết chúng tôi khi họ tra tấn để buộc chúng tôi phải hợp tác với họ. Tới cuối năm 1969, những sự đánh đập thường lệ được ngừng lại, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh của chúng tôi không còn thảm khốc như những năm trước đó nữa. Tôi được trả tự do và trở về Mỹ khi chiến tranh kết thúc, tính tới tháng 3 năm 1973, tôi đã bị cầm tù trong 5 năm rưỡi.
Chúng tôi được dạy phải có niềm tin nơi Thượng Ðế, nơi tổ quốc, và tin nhau. Hầu hết chúng tôi đã sống như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin này - niềm tin vào nhau - là vũ khí phòng vệ tối hậu của chúng ta, là những thành lũy mà kẻ thù của chúng ta không thể vượt qua được. Ðó là niềm tin tôi đã ấp ủ từ trong Học Viện Hải Quân. Ðó là niềm tin của cha tôi, ông tôi. Trong nhà tù, tôi là một người dơ dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì tôi còn giữ lại trong phẩm hạnh của tôi là niềm tin của cha-ông (FATHERS) tôi. Như vậy là đủ.
Phỏng theo và trích dẫn từ “Niềm Tin của Tổ Tiên (FATHERS) Dòng Họ Tôi”.
Tác giả: JOHN McCAIN
tydanh
05-28-2008, 04:47 PM
Đọc mỏi lưỡi luôn "Ngay09" ơi! mà vẫn chưa hết, chắc phải tăng ca quá.
clblaptrinhweb.com
05-28-2008, 05:00 PM
Ai đi nghĩa trang quân đội Biên Hòa làm ơn cho em gửi 1 nén nhang đến những người đã ngã xuống nhá . Em cám ơn rất nhiếu
ngay09
08-19-2008, 11:40 AM
Bài thơ về lịch sử Việt Nam (18+)
Lạc Long Quân vẩy đầy mình
Âu Cơ là vợ đẻ uỳnh trăm con
Đứa xuống biển đứa lên non
Những chuyện như thế đ'o còn ai tin
Triệu Đà tướng giỏi vãi lìn
Đánh nhau với cả quân mình Cổ Loa
Xây thành phải đợi tiếng gà
Thần rùa giúp đỡ dần dà cũng xong
An Dương Vương cứ khóc ròng
Mất nước chỉ tại thù trong giặc ngoài
Trọng Thủy là đứa bất tài
Mỵ Châu phải gọi là loài hiếu dâm
Bà Trưng nhịn nhục nỗi niềm
Vùng lên khởi nghĩa hấp diêm bọn Tàu
Nước mình độc lập chẳng lâu
Bọn Khựa nó lại lâu bâu xông vào
Lí Bí một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Có ông Hắc Đế họ Mai
Lịch sử em nắm cũng vài ý chung
Một nghìn năm sử lung tung
Thế rồi Nam Hán như sung chết đầy
Ngô Quyền học giỏi mưu hay
Chọc thủng tan nát một bày thuyền to
Nước mình tên gọi Đại Cồ
Việt từ ngày ấy họ Ngô nắm quyền
Mười hai quân sứ nổi điên
Có người đánh lộn kiếm tiền họ Đinh
Cờ lau từ thuở còn trinh
Binh đao từ thuở nước mình hỗn mang
Ninh Bình vua ở với quan
Hoa Lư thủ phủ trong hang to đùng
Hoang Tiền (Tiên Hoàng) chết lúc đang sung
Thái hậu thấy thế ngủ cùng họ Lê
Lê Hoàn sung sướng đê mê
Mặc bào ra trận bụng phê mắt lòi
Vua Lý thèm gái đi chơi
Tới khi ngẩng mặt lên trời thất kinh
Một con rồng múa linh tinh
Bởi vì mê tín triều đình dời đô
Một tay gây dựng cơ đồ
Phật là quốc đạo, Khổng Nho làm nền
Một hôm ở trong cái đền
Quốc sư Thường Kiệt rập rình Tống quân
Bắc loa rồi giả làm thần
“Nước Nam tao ở…” dần dần nói ra
Ăn rùa quân Tống cũng gà
Vội bê quần áo đệm ga đi về
Lý Thường Kiệt cười hề hề
Giọng tao thái giám ai chê nữa nào
Quả là trí tuệ trình cao
Việt quân sung sướng ào ào tiến lên
Họ Trần éo chịu được thêm
Mới đưa Trần Cảnh một đêm vào triều
Cùng công chúa Lý làm liều
Thôi thì hai cháu cũng yêu thật lòng
Nhà Lý vì thế đi tong
Sang triều vua mới thuộc dòng nhà tao [thằng viết bài này chắc tên là Như Nhộng ]
Họ Trần rất đỗi anh hào
Thăng Long bỏ ngỏ chui vào rừng sâu
Nguyên Mông thiếu đói khá lâu
Từ trong hang đá ta bâu ra đầy
Người Việt vốn tính bầy nhầy
Hỏi Trần Hưng đạo bậc thầy thái sư
Vua rằng: “Địch mạnh thế ư?”
Đạo rằng: “Thua cứ cắt… c* của thần”
Toàn dân khí thế vô ngần
Đánh giặc Mông Cổ ba lần nát tan
Quốc Toản bóp nát quả cam
Ống đồng thằng giặc Thoát Hoan chui vào
Xưa nay gì cứ cao trào
Thì ngay sau đó sẽ nhào xuống ngay
Hồ Quý Ly vốn cao tay
Tiếm quyền và nước non này về ta
Tây Đô Thanh Hóa là nhà
Thăng Long đếk ở, rõ là thằng ngu…
Nhà Hồ thọ được mấy thu
Giặc Minh phương Bắc từ từ xâm lăng
Đầu người thì bị chặt phăng
Trai tù gái hiếp hờn căm ngút trời
Anh hùng xuất hiện kịp thời
Ở trong Thanh Hóa có người họ Lê
Biệt danh Lợi, nhóm máu dê
Nhân tài Nguyễn Trãi là bề tôi trung
Được cho gươm báu để dùng
Bởi vì người Việt thờ chung thần Rùa
Nhà vua câu cá với bồ
Tiện tay trả kiếm ở hồ Hoàn Gươm
Chỉ vì vua chết bất thường
Nguyễn Trãi phải khổ ba đường chu di
Trong vụ án vườn Lệ Chi
Người ngoài bán tín bán nghi nhiều phần
Công lao chúa Nguyễn lấn sân
Nước mình chiếm trọn địa phần miền Nam
Ngày xưa là đất của Cam
Pu chia với cả người Chàm Mút-xlim
Chiêu Thống bị giặc bóp ch.....
Phú xuân Nguyễn Huệ im lìm tiến quân
Đánh cho dài tóc vô ngần
Đánh cho răng nhuộm mười phần đều đen
Đánh cho Sĩ Nghị một phen
Hồn bay phách lạc, xác chen thành gò
Đống Đa cho tới Cửa Lò
Gió reo còn vẳng tiếng hò ba quân
Giặc xâm lược phải mút chân
Giặc vào giặc phải liếm ph*n nước mình
Giặc Thanh giặc Tống giặc Minh
Nam tiến đều bị mất chân mất đầu
Quang Trung vua sống chẳng lâu
Thì đùng một cái đi chầu bên kia…
Ngọc Hân công chúa đầm đìa
Chàng ơi sao lại say bia đánh lộn?
Các chúa nhà Nguyễn cũng khôn
Dần dần dẹp Trịnh ôn tồn tiến lên
Việt Nam quốc hiệu đặt tên
Miền Trung ở Huế xây nên kinh thành
Bấy giờ thiên hạ nổi danh
Một người thơ phú rất rành tên Du
Viết ra một quyển dâm thư
Tên nhân vật chính hình như là Kiều
Gần xa ân ái cũng nhiều
Tài hoa xinh đẹp lại chiều khách chơi
Đọc Kiều mới hiểu kiếp người
Ngẫm ra càng thấy cuộc đời xấu xa
Đau đớn thay phận đàn bà
Than rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Nam Kỳ dân trồng cây bông
Gòn ở một chỗ là sông Sài Gòn
Hòa bình phủ khắp nước non
Các cha truyền đạo lon ton chạy vào
Tây Ban cho tới Bồ Đào
Toàn người da trắng to cao ch… dài
Có ông đờ Rốt thật tài
Nghĩ ra quốc ngữ mấy bài đầu tiên
Dân Nam sung sướng như điên
Từ nay éo phải bút nghiên chữ Tàu
A bê xê thuộc làu làu
Thánh hiền chữ Hán vò nhàu vứt đi
Vào năm ết-tin-fíf-ty-…
Ết người Pháp đến không đi về nhà (1858)
Bắn nhau bán đảo Sơn Trà
Pháp là đại bác, Việt là cung tên
Chịu thua vua Nguyễn kí tên
Nhượng cho sáu tỉnh ở miền Đông Nam
Nước mình thành nước An Nam
Bị Pháp đô hộ lại càng khó khăn
Gần xa trí thức băn khoăn
Bao giờ mới hết liếm ch.. nước ngoài
Bội Châu thỉnh thoảng viết bài
Thơ ca yêu giống yêu loài ghét Tây
Đông Du phong trào rất hay
Thanh niên du học càng ngày càng đông
Hoàng Hoa Thám giỏi võ công
Mùa xuân khởi nghĩa, mùa đông mất đầu
Thế kỷ mười chín u sầu
Anh hùng giải phóng kiếm đâu bây giờ?
Năm đó giáng thế bác Hồ
Thiên văn phỏng đoán cơ đồ sẽ nên
Sinh Cung họ Nguyễn là tên
Nam Đàn là huyện, Kim Liên là phường
Nghệ An là đất quê hương
Trình độ Hán học tương đương người Tàu
Tây phương văn hóa hiểu sâu
Châu Phi đã trải, châu Âu đã từng
Yêu dân thương nước vô cùng
Năm hai mốt tuổi đùng đùng đi Tây
Quyết tâm học lấy điều hay
Mỗi ngày Bác viết lên tay mười từ
Bao lần vào tội ra tù
Bao lần Bác vẫn cười trừ kẻ gian
Ví không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong lúc gian truân
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng
Paris Bác ở công poăng
Ngày thì quét tuyết đêm chăm học bài
Lênin cương luận rất dài
Bác đọc Bác hiểu một vài ý chung
Học xong Nin-Mác Bác bùng
Nồi xoong quần áo chăn mùng Bác đi
Thế rồi Bác bị tình nghi
Tàu Tưởng bắt Bác mong chi ngày về
Nhưng nhờ nghị lực tràn trề
Đến năm bốn mốt Bác về Việt Nam (1941)
Lúc đầu Bác ở trong hang
Bẻ cây phá đá làm bàn Bác ghi
Vui chơi sung sướng tùy nghi
Sáng ra bờ suối tối thì vào hang
Rau măng cháo bẹ sẵn sàng
Cuộc đời cách mạng thật sang thật giàu…
Trong hang có tảng đá vôi
Bác đem tạc tượng cho trôi thì giờ
Khi vui, Bác lại làm thơ
Khi buồn Bác lại đánh cờ cho vui
Thơ Bác, cũng khá là hay
Hết mưa là nắng hết ngày là đêm
Suốt ngày, Bác nằm nghĩ suy
Đánh xong giặc Pháp, lấy gì nuôi dân
Đánh Pháp phải biết kiệm mìn
Trường kỳ kháng chiến, phải nhìn từ xa
Thế rồi Cách Mạng nổ ra
Bác cùng chính phủ tà tà về xuôi
Bác Hay uống rượu một mình
Khi buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng
Say sưa rồi nói lung tung
Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu
Dân tình đuôi áo màu nâu
Đầu không đội mũ, chân đâu có giày
Xem ra cơ sự thế này
Việt Nam ắt hẳn, ăn mày sẽ đông
ngay09
08-19-2008, 11:40 AM
Anh Hùng Vô Danh
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước
Họ là kẻ muôn nghìn năm thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc
Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại xa, hăng hái vượt trường sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc
Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
Người thất cơ thành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa.
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt và xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm trinh trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống VIỆT.
Đằng Phương - Nguyễn Ngọc Huy
Sorry, closed vì không liên quan tới nhạc vàng, để lại nguy hiểm
Powered by vBulletin™ Version 4.1.3 Copyright © 2013 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.