PDA

View Full Version : Sáu Lầu và bài Dạ Cổ Hoài Lang



Bái Mai Tử
12-17-2006, 05:00 PM
Tỉnh Bạc Liêu có ông Sáu Lầu tên là Cao Văn Lầu sanh ra lối năm 1890 ( Theo ông Trằn Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Sài gòn khai trí xb, năm 1970, trang 115, do giáo sư Nguyễn Thuyết Phong dẫn chứng ( Thế giới âm thanh Việt Nam, California, Hoa Cau xuất bản, trang 72) Hay là năm 1892 theo lời ông Bùi Trung Tín ( Bản vọng cổ trên từng chặng đường phát triển, Tạp chí " Văn Hoá " Tháng 5 năm 1994, trang 72 ) .
Trong bài báo " Một cuộc phỏng vấn bất ngờ " của Thanh Cao đăng trong báo " Dân Mới " ngày Chủ nhật 20/12.1953 khi Thanh Cao hỏi ông Sáu Lầu :
- Chẳng hay từ ngày bác cho ra đời bản vọng cổ, đến nay đã được bao nhiêu năm rồi và bác còn nhớ năm nào chăng ?
Ông Sáu Lầu trả lời :
- Tôi không nhớ ra được bao nhiêu lâu, nhưng chỉ nhớ năm ấy tôi được 29 tuổi và bây giờ tôi đã sáu mươi ba tuổi.
Bài đăng phỏng vấn vào năm 1953, ông sáu mươi ba tuổi, tức là ông chào đời năm 1980. Và ông sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang là năm 1919, lúc " Khủng hoảng tinh thần ", Trong " hoàn cảnh đau thương " bị mẹ bắt buộc ly dị với vợ của ông sau tám năm chung sống, vợ không sanh con nối dòng, Ông buồn nhớ bạn lang nên đặt bài ca tên " Hoài Lang " .
Ông Bùi Trung Tín cũng nói lý lẽ như trên và thêm chi tiết là ông Bẩy Kiên đề nghị thêm vô hai chữ Dạ Cổ là tiếng trống ban đêm . Năm sáng tác là 1920 và nơi sáng tác là nhà đèn thị xã Bạc Liêu .
Giáo sư Thiếu Phong ghi rằng ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang, là người vợ bị người mẹ bắt buộc phải li dị, mà nhân dịp có một ngóm nghệ sĩ từ Huế và trình diễn trong Nam . Ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài lang để đáp lễ nhóm nghệ sĩ Huế ( Trang 72 sách đã dẫn ) .
…….. Tuy những việc ấy không quan trọng lắm nhưng tôi ghi lại để các bạn thấy rằng chỉ có mấy điểm : Năm sinh của ông Sáu Lầu, năm sáng tác bài Dạ cổ hoài lang và trương hợp sáng tác mà các nhà báom nghiên cứu âm nhạc chứ nhất trí. Nên xin các bạn đọc xem các tư liệu tôi ghi lại, khi tôi chưa có phưong tiêng tự kiểm tra lại cho chính xác , thì chỉ có giá trị tương đối về ngày tháng .


Đại khái chúng ta biết ông Sáu Lầu sanh tại xã Thuận Lễ nay là Thuận Mỹ, tỉnh Tân An , lối năm 1980. Năm lên sáu tuổi theo cha về Bạc Liêu . Năm 21 tuổi cưới vợ , tám năm sau vì vợ không sanh con nối dòng, mẹ buộc phải ly dị, nên năm hăm chín tuổi, xa vợ buồn, đặt bài Hoài lang . Nhạc sĩ Bảy Kiên , đề nghị thêm 2 chữ Dạ cổ . Ông Sáu Lầu là học trò của ông Nhạc Khị ở Bạc Liêu thường gọi ông Hai Khị là thầy. Ngoài bài Dạ cổ hoài lang , ông Sáu Lầu còn sáng tác bài Minh Hoàng thưởng nguyệt , Giọt mưa đêm nhưng không ai biết các bài ấy ( Thanh Cao, Báo Dân mới 20/12/53, trang 3)

Bái Mai Tử
12-17-2006, 05:03 PM
Dạ Cổ Hoài Lang

1. Từ là từ phu tướng
2. Bảo kiếm sắc phán lên đàng
3. Vào ra luống trông tin nhạn
4. Đêm năm canh mơ màng
5. Em luống trông tin chàng
6. Ôi gan vàng thêm đau
7. Đường dù xa ong bương
8. Xin đó đừng phụ nghĩa Tào khang
9. Còn đêm luống trông tin bạn
10. Ngày mỏi mòn như đá Vọng Phu
11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng
12. Lòng xin chớ phụ phàng
13. Chàng là chàng có hay
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tay
15. Biết bao thuở đó sum vầy ?
16. Duyên sắc cầm đừng lợt phai
17. Là nguyên cho chàng
18. Hai chữ bình an
19. Trở lại gia đàng
20. Cho én nhạn hiệp đôi.

Bài này trích trong bài của Bùi Trung Tín đã dẫn phía trên . Tác giả Bùi Trung Tín trích trong sách của ông Trịnh Thiên Tứ, Ca nhạc cổ truyền điệu bạc Liêu, Bài của Phạm Duy ghi lại trong quyển " Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam " , có vài chữ khác trong nhiều câu . Trong vài này tôi không đối chiếu lời ca của nhiều dị bản mà chỉ so sánh hai bài nói trên để chúng ta tìm thấy đại ý của bài Dạ Cổ Hoài Lang
Tôi xin đề nghị lời ca sau đây:


1. Từ là từ phu thướng . Có bài chỉ đê Từ phu tướng cũng đúng.
2. Bửu kiếm sắc phong lên đàng . Bửu kiếm hai chữ hán viết đúng hơn Báu kiếm . Sắc phong đúng hơn sắc phán vì phán là lời vua nói của vua mà sắc là vản viết. Lên đàng đúng hơn vì giao vần với chữ chàng.
3. Vào ra luống trông tin chàng. Đúng hơn là tin nhạn, vì chữ chàng dễ ca với giọng hò hơn chữ nhạn.
4. Đêm năm canh mơ màng . Không có gì thay đổi
5. Trông luống trông tin chàng, mặc dầu lập ý câu thứ 2, nhưng đúng hơn với chữ đàn và dễ ca hơn ba chữ trông tin chàng ( Phạm Duy tr.188)
6. Ôi gan vàng quăn đau. Gan vàn quăn đau đúng hơn " tim vàng thêm đau " vì khi buồn , ngưòi Việt thương nói Bằm gan tím ruột ".
7. Chàng dầu say ong bướm đung hơn " Đường dù xa ong buớm " Người trong Nam như ông Sáu Lầu không dùng chữ "dù" mà chữ "dầu". Ong bương có nghĩa là " Tình yêu đôi lứa " thì say ong bướm có nghĩa là chàng có thể gặp gỡ hay say mê tình mới, thì rất hợp với câu sau : Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
9. Đêm luống trông tin bạn . hay tin nhạn cũng được.
10. Ngày mỏi mòn như đá Vọng Phu
11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng
12. Lòng xin chớ phụ phàng
13. Chàng ơi! chàng có hay
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
15. Biết bao thuở đó sum vầy ?
16. Duyên sắc cầm đừng lợt phai . Lợi phai ăn vần với sum vầy , sầu tây. Tình thương trong bài của Phạm Duy ghi lại không ăn vần với mấy câu trên .
17. Thiếp nguyện cho chang
18. Đặng chữ bình an
19. Trở lại gia đàng
20. Cho én nhạn hiệp đôi.

Nhớ ngưòi ra đi, nhắ ngưòi đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở nhà mỏi mòn trông tin nhạn, luôn mong mỏi giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt Nam thời bấy giờ . Vì bổn phận, vì nhiệm vụ chồng phải " chấp kiếm lên đường " đi ra biên ải xa vời của người lính Việt bị mộ sang Pháp trong thế chiến thứ nhất 1914 1918. Trong các trường hợp ấy, người thiếu phụ trông chồng phải vì nghĩa chung mà gác niềm tây. Tiếng trông đêm khuya làm người vọng phu khó an giấc điệp cà chạnh lòng vì cảnh cô đơn.
Thủa ấy bài Nam Ai với đề tài "Tô thị chức cẩm hồi văn " tuy tích xưa của đời Tần bên Trung Quốc, mà người Việt nghe ca:
Khi vưng chiếu chỉ ra đề cờ
Từ chang đi thiếp bặt tin đợi chờ
Cũng nghĩ đến thân phận mình cô phòng chiếc bóng.
Bài Tứ đại oán với tích Bá Lý Hề, chông lai kinh dự thi, khi đã lâu, mà ngày về chưa thấy đến, để cho vơn mỏi mòn phải ôn đàn đi ăn xin để tìm người chồng phụ bạc .
Hay bài Anh Khoá ngâm theo hơi Sa mạc miền Bắc cũng nhắc đến thiếu phụ tiễn chân chồng " đến tận bến tầu" chàng đi thiếp
Dạy con thay bố, nuôi mẹ già em lại thay con
Tính đết ngón tay đã một năm tròn
Ăn sương , nuốt gió kể cũng hao còn cái xác con ve .
Đi ra chiến trường hay đế trường thi tại kinh kỳ xa thẳm bôn ba hải ngoại theo phong trào Cần Vương , hay bị bắt buộc phải tòng quân trong thời kỳ thế chiến thứ nhất, mục đích người đi có khác, nhưng tâm trạng ấy bằng một hình thức mới khác mấy bài Nam ai , Tứ đại
Nét nhạc lại dễ nghe , dễ nhớ , cùng một cấu trúc thang âm, điệu thức với những bài dân ca miền nam : Hò xự non, Xang già , xê, cống non như cách ru con " Ầu ơ ví dầu" câu hò cấy trong ruộng sâu đầy nướic, hay câu hò trên sông " bờ bụi tối tăm" từ Tiền Giang. Bến Tre tới Đồng Tháp. Qua Hậu Giang, Cần Thơ tới Bạc Liêu , nét nhạc rất gần với nét nhạc của cách nói thơ Lục Vân Tiên , điệu ca Lý con sáo và cách tụng hơi Ai của các sư vãi miền Nam. Bài Dạ cổ hoài lang nhừ vậy mà dễ lọt vào tai , dễ đi vào lòng của người dân Việt miền Nam .

Bái Mai Tử
12-17-2006, 05:04 PM
Thủa ấy bài Hành Vân đang thạnh hành, bốn câu chót của bài Dạ cổ hoài lang nhứt là hai câu 17,18 y hệt câu đầu và câu thứ 3 của bản Hành Vân . Ngoài ra còn câu thứ hai Liu , cống. liu. cống. xê .liu.xang. tương tợ như đoạn sau câu thứ 9 bài Nam Ai : Xang , xe, liu. cống,.xê , xang . Không phải ông Sáu Lầu chắp nối vài câu này vào vài câu khác, nhưng ông đã thấm nhuần các hơi điệu mà sáng tác.

Lời và nhạc đề diễn tả nỗi buồn của người vợ trông chồng . Mà người Việt thì rất thích nhạc buồn, Bắt đầu buổi hoà đờn Tài tử thì đờn bài Bắc, chuyển qua hơi Xuân , cuối cùng kết thúc bằng hơi Ai oán để cho thính giả phải:
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Càng ngậm đắng nuốt cay , càng thấm thía trong lòng, càng say mê thích thú.
Cái buồn của người Việt Nam thường ém vào bên trong . Muốn nói , lắm khi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời , nhưng nó đã có từ khi lập quốc , vì phải chống thiên tai. chống ngoại xâm , cái buồn khó tả khôn nguôi trong thời vị trị. Cái buồn dính liền với bản chất ngưòi Việt đa tình đa cảm , hay quyến luyến , hay bịn rịn , dầu sanh ly hay tử biệt , khó cắt đứt sợi dây vô hình cột chặt ngưòi ở lại với người ra đi .
Bài dạ cổ hoài lang gợi lên được cái buồn ví ẩn trong thân tâm của con người Việt Nam .


Nếu chỉ ở trong giới ca nhạc tài tử thì chưa chắc Dạ cổ hoài lang được phổ biến rộng rãi và phát triển mạnh mẽ như bài Vọng cổ ngày nay .
1. Các soạn giả tuồng Cải lương luôn dùng bài Dạ cổ hoài lang nhị đôi , như ông Phạm Công Bình đặt vở tuồng " Tối độc phụ nhân tâm " diễn ngoài Bắt , diễn trong Nam cho in tại Sài Gòn năm 1922 , sau tái bản năm 1924 đổi tên tuồn lại thành " Độc phụ quả báo" ( Nguyên bài ca đăng trong báo Văn Nghệ tháng 5 năm1994 đã dẫn phía trên )
Năm 1925 ( Theo sách motí xuất bản của ông Trương Bỉnh Tòng " Nhạ Tải tử, nhạc sân khấu Cải lương, Nhà xuất bản sân khẩu TP. HCM 1997 trang 57" Huỳnh Thủ Trung, tự Tư Chơi đã sáng tác lời ca cho bài vọng cổ nhịp tư mang tên " Tiến nhạn kêu sương "
Nhạn đành kêu sương hơi biển Bắc
Én cam khó hận dưói trời Nam

Theo ông Bùi Trung Tín, dẫn chứng theo lời của cố nhạc sĩ ưu tú Giáo Thinh, thì năm 1927 một thầy đồng nghiệp với ông tại Vình Long đã sáng tác bài Con nhạn kêu sương . Hai bài đó lời giống nhau nhưng mà xuất xứ khác nhau.
Và lần lượt năm 1936 , Năm Nghĩa ca bài Vọng cổ nhịp 8 Văng vẳng tiếng chuông chùa , giọng công phu xa đưa của đoàn sư vãi , năm 1946 cô Tư Sạng ca bài vọng cổ nhịp ba mươi hai .
2. Lúc ấy đã bắt đầu có đĩa hát của " Gáng hát cải lương của Thấy Năm Tú ở tại Mỹ Tho, hát cho hàng Pathé Phôn nghe chới " Lần lượt các hãng đĩa Béka , đĩa Columbia nhãn màu vàng nên được gọi là " đĩa tròng vàng " in những bài hát Cái lương rất thạnh hành . Cô Bảy Phung há ca bài " Tình duyên sao ngắn ngủi" chữ duyen theo lẽ ca cùng độ cao của chữ " Xang " Cô Bảy lại ca chữ "oan' , cách ca đổi mới và rất được hoan nghinh.

Các bạn có lẽ còn nhớ tiếng cô Hai Đá ca bài "gió bấc lạnh lùng", cô Ba Bến Tre ca vài"bầu tâm sự", có nhạc sĩ Viểu đờn tranh , nhạc sĩ Thanh đờn Kìm. tuồng "Sĩ Vân Công chúa" có cô Năm Phỉ và Bẩy Nhiêu ca vọng cổ , cô Tư Sạng cũng ca vọng cổ với cô Bảy Phùng Há, Năm Chuâu. Tư Út ca vọng cổ với cô Bảy Phùng Há. Năm Châu và Tư Út va vọng cổ trong tuồng " Huyền châu nữ"…
3. Sau khi dĩa hát đến đài phát thanh. Đua nhau giới thiệu bài Vọng cổ trên làn sóng điên. Không dài như "Tứ đai" không mắc mỏ như " Nam Ai " Không mộc mạc như " Hành Vân " bài vọng cổ vưad đủ hơi, vừa dễ nghe , vừa là bài mới sáng tác được các đào kép danh tiếng ưa chuộng, , giới thiệu trên sân khấu, trong đĩa hát và trên làn sóng điện , nên chẳng khác như diều gặp gió, như một âm thanh vừa phát ra đã ngân lên cộng hưởng khắp chốn , khắp nơi , may mắn gặp môi trường thuận tiên, nhiệm mầu tợ như giọt nước cam lồ của Phật bà quan âm, đem cành dương liễu dải xuống phàm trần, một giọt biến thành ba ngàn giọt.
4 Bài Dạ cổ hoài lang và sau này bài Vọng cổ có tánh chất "đoọng" có thể biến hoá dễ dàng . Lại thêm trong Nam. Quan điểm "chân phưong. Hoa lá" rất thạnh hành. Học thì có căn có cội. chân thật và vuông vắn. đơng thì thêm hoa thêm lá. Thêm duyên. Thêm nhuỵ cho tiếng đàn thêm bay bướng. cho câu ca thêm mượt mà, nhờ tánh chất "động" mà xang "dằn" và"già" thêm một chút, chữ cống "lại" "non" và thấp hơn một chút, cho cái buồn thêm "rũ rượi", cho hơi ca thêm "ngọt ngào".
Lại còn đoèn ca hơi lần, từ nhịp đôi qua nhịp tư, nhịp rám, nhịp mười sáu, nhịp ba mươi hai.
Rồi còn thêm cách " vào bài, vào bản", cách "cô vọng cổ ", nói lối xong có một câu để người ca, tuỳ khả năng, tuỳ ý thích, tuỳ sáng kiến, mà cho giọng ca quanh co, uốn khúc trước khi xuống chữ "Hò" vào bản, làm cho người nghe "nín thở " đợi chơ, bị lôi cuốn theo hơi bổng giọng trầm, ngày càng dồn dập, đến khi chậm rãi dứt câu vào bài, thính giả thở phào và vỗ tay tán thưởng .

Kết Luận

Trong Cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nào được như bài " Dạ cổ hoài lang" biến thành "Vọng cổ " từ một snág tác cá nhan đã biến thành một sáng tác tập thể. Sanh ra từ đầu thế kỷ, lớn lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hoá thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong long người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu.

Trong đoạn đầu thế kỷ thứ XX, tuy chỉ có bài " Dạ cổ hoài lang " biến thành bài Vọng cổ được truyền tụng và lớn mạnh đến ngày nay, chúng ta cũng thấy rằng tỉnh Mỹ Tho cũng có đóng góp rất nhiều trong việc phát triển nhạc Tài tử Cái lương
Làng Vĩng Kim có ông Năm Diệm ( nội tổ của chúng tôi ) dùng đàn Tỳ bà tấu nhạc Tài tử có Bảy Triều ( thân phụ của chúng tôi) chế cách lên dây "Tố Lan" của đàn Kìm. Trong làng Đông Hoà có ông Nguyễn Tri Khương (cậu thứ năm của chúng tôi) đặt bài bản mới.
Tại Cái Thia có nhóm của ông Tư Triều. Trong nhạc Lễ có ban nhạc của ông Bảy Vô, Tám Ra.
Nếu liếc qua sân khẩu cái lương thì ngoài việc "gánh hát cải lương của thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho", còn có gánh "Đồng Nữ Ban" cảu bà Trần Ngọc Diện ( cổ thứ 3 của chúng tôi ) . Những tài tử trứ danh như cô Bảy Phung Há, cô Bảy Nam, kép Năm Châu đều là người của tỉnh Mỹ Tho.
Và chúng tôi, những ngưòi con của tỉnh Mỹ Tho ( nay là tỉnh Tiền Giang ) nhờ đó cũng được chút thơm lây .